RSS

NHẬT BẢN GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN VÀ MỘT SỐ SUY NGHĨ ĐỐI VỚI VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM

NHẬT BẢN GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN VÀ MỘT SỐ SUY NGHĨ
ĐỐI VỚI VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
TS. Nguyễn Minh Hằng
Bộ môn Luật – ĐH Ngoại Thương
1.    Công ước Viên và sự ảnh hưởng của Công ước ở Châu Á
Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi là Công ước Viên)  được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Công ước này đã trở thành Công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế. Cho đến thời điểm hiện nay, với 74 quốc gia là thành viên , ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến hơn ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới . Trong số 74 quốc gia thành viên của Công ước này, có sự góp mặt của các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển nằm trên mọi châu lục. Thực tiễn áp dụng Công ước Viên cho thấy Công ước này cung cấp một khung pháp lý thống nhất, hiện đại về mua bán hàng hóa quốc tế, có thể được áp dụng tại mọi quốc gia không phân biệt truyền thống pháp luật hay trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó.
Từ khi Công ước có hiệu lực (ngày 01/01/1988), Công ước đã chứng tỏ vai trò quan trọng của nó trong việc góp phần giải quyết các xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc tế. Điều này được thể hiện qua rất nhiều bản án, phán quyết của Toà án và Trọng tài trên khắp thế giới. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số các bản án, phán quyết có liên quan đến Công ước đã lên tới hơn 2000 .
Cho đến thời điểm hiện tại, đã có 12 quốc gia Châu Á là thành viên của Công ước . Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên của Châu Á tham gia vào Công ước Viên. Tiếp theo đó là Singapo (năm 1996), Hàn Quốc (năm 2005) và năm 2008, Nhật Bản đã phê chuẩn Công ước. Như vậy, bốn nền kinh tế mạnh nhất của Châu Á đã tham gia Công ước này.
Câu hỏi đặt ra là Công ước đã được áp dụng như thế nào tại các quốc gia Châu Á? Lấy Trung Quốc làm nghiên cứu điển hình, có thể thấy, từ hai thập kỷ (từ năm 1988 khi Công ước bắt đầu có hiệu lực đến hết năm 2008), Công ước Viên đã được áp dụng rất rộng rãi tại Trung Quốc . Nhiều phán quyết của trọng tài Trung Quốc, chủ yếu là của CIETAC (China International Economic and Trade Arbitration Commission) có liên quan đến Công ước Viên đã được tập hợp. Con số này là khoảng 300 phán quyết . Trong các phán quyết này, có thể thấy rõ vai trò của Công ước trong việc điều chỉnh các vấn đề mà pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung Quốc còn bất cập hoặc chưa điều chỉnh, nhờ đó những tranh chấp trong lĩnh vực ngoại thương được giải quyết nhanh chóng và hợp lý.
Theo nhận định của các nhà phân tích thì Công ước Viên đã phát huy vai trò rất tích cực để thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Trung Quốc. Vai trò này được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn những năm 90 của thế kỷ trước, thời kỳ phát triển mạnh mẽ hoạt động ngoại thương của Trung Quốc . Một mặt, các nhà kinh doanh Trung Quốc có một nguồn luật đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới để áp dụng vào hợp đồng ký với đối tác nước ngoài. Mặt khác, các đối tác nước ngoài cũng tin tưởng và yên tâm hơn khi làm ăn với các doanh nghiệp Trung Quốc vì Công ước này đã được chấp nhận ở Trung Quốc. Số lượng các hợp đồng trong đó các bên lựa chọn Công ước Viên là luật áp dụng ngày càng gia tăng .
Vai trò của Công ước ở Trung Quốc còn thể hiện ở việc, nhiều điều khoản trong Luật Hợp đồng Trung Quốc ngày 15/03/1999 được tham khảo từ Công ước này. Các nhà lập pháp Trung Quốc đã chuyển hóa các nguyên tắc chung và một số quy định cụ thể của Công ước Viên vào pháp luật hợp đồng của mình, trước hết vì đó là những nguyên tắc và quy định được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới.
2.    Nhật Bản gia nhập Công ước Viên và dự báo về tương lai của Công ước tại Châu Á
Nhật Bản đã phê chuẩn Công ước Viên ngày 01/07/2008 và Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực tại đất nước mặt trời mọc từ ngày 01/08/2009.
Lý do để Nhật Bản gia nhập Công ước Viên là nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại về hàng hoá Nhật Bản và các quốc gia thành viên Công ước. Việc cùng trở thành thành viên của Công ước giúp các quốc gia xích lại gần nhau hơn trong quan hệ mua bán, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được nhanh chóng và thuận lợi hơn. Đặc biệt, với việc gia nhập Công ước này, Nhật Bản mong muốn tạo khung pháp lý thuận lợi đẩy mạnh hoạt động thương mại song phương giữa Nhật Bản và Trung Quốc .
Việc Nhật Bản trở thành thành viên Công ước Viên có ảnh hưởng gì đến những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản hay không? Khi Việt Nam chưa gia nhập Công ước này thì câu trả lời có vẻ như là không. Thực tế lại hoàn toàn không phải như vậy. Điều 1.1.b của Công ước quy định: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau… khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước”. Theo trường hợp này, Công ước Viên sẽ có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết giữa một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia là thành viên và một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia chưa phải là thành viên công ước. Ví dụ, một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa người mua Việt Nam và người bán Nhật Bản (trong đó hai bên không lựa chọn luật áp dụng) sẽ được điều chỉnh bởi Công ước Viên nếu các quy phạm xung đột dẫn chiếu tới luật Nhật Bản, mặc dù Việt Nam chưa là thành viên của Công ước . Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phổ biến kiến thức về Công ước Viên ngay cả khi Việt Nam chưa phải là quốc gia thành viên. Đây cũng là điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý nhằm tránh bị động khi Công ước được áp dụng vào hợp đồng mà mình ký với các thương nhân có trụ sở thương mại ở các quốc gia thành viên của Công ước .
Các chuyên gia dự báo việc nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ước Viên đánh dấu một bước thành công mới của Công ước tại Châu Á. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia Châu Á .
3.    Kiến nghị: Việt Nam cần gia nhập Công ước Viên trong thời gian sớm nhất
Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác song phương và đa phương. Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO được hơn 2 năm và đã thực sự tham gia vào “luật chơi chung” trong khuôn khổ của tổ chức này. Các Hiệp định của WTO đóng vai trò quan trọng để phát triển hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các nước khác. Tuy vậy, các Hiệp định này chỉ đưa ra các nguyên tắc và quy định mang tính chất nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Khi tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế cụ thể như mua bán hàng hóa, các thương nhân cũng cần có “luật chơi chung” nhằm giảm thiểu các rào cản về mặt pháp lý do các xung đột pháp luật tạo nên.
Đã đến lúc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm đến việc tham gia vào các điều ước quốc tế chuyên ngành trong những lĩnh vực cụ thể, trong đó lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế cần phải được chú trọng. Lý do là vì cho đến thời điểm hiện tại, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa vẫn là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc gia nhập Công ước Viên là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn để phát triển các hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá (xuất nhập khẩu) nói riêng của Việt Nam; là cách thức hữu hiệu để giải quyết những xung đột pháp luật với các nước khác và giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn.
Như đã phân tích ở trên, sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của Công ước Viên tại Châu Á đã được khẳng định và sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Việt Nam không nên và không thể đứng ngoài những “luật chơi chung” đã được nhiều quốc gia Châu Á áp dụng. Việt Nam cần nhanh chóng, chủ động có các hành động cụ thể tiến tới gia nhập Công ước Viên trong thời gian sớm nhất (chậm nhất là cuối năm 2009) để nhanh chóng tận dụng được những lợi ích mà văn bản thống nhất luật này đem lại . Lợi ích khi gia nhập Công ước này là rất lớn, đối với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như đối với nền kinh tế Việt Nam . Lợi ích này trước hết là phát triển mối quan hệ mua bán hàng hóa với các quốc gia Châu Á là bạn hàng lớn của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Sau đó là những lợi ích lớn hơn có được khi phát triển mối quan hệ thương mại với các quốc gia thành viên khác ở mọi châu lục.

Tài liệu tham khảo
1.    Claude Witz, L’essor de la Convention de Vienne en Asie (Sự ảnh hưởng của Công ước Viên tại Châu Á), Recueil Dalloz, 2009, tr.280
2.    International Trade Centre (UNCTAD/WTO) & Ministry of Trade of Vietnam, Report on key multilateral treaties affecting trade not ratified by Vietnam- A cost/benefit analysis, March 2007 (tài liệu hội thảo)
3.    www.cisg.law.pace.edu
4.    www.uncitral.org

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 14, 2012 in Nghiên cứu về CISG

 

Thực tiễn áp dụng Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)

Hiện nay, sự tồn tại của CISG được giới luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế biết đến khá rộng rãi. Tuy nhiên, khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước này đặc biệt trong thương mại hàng hóa vẫn tồn tại. Có ba lý do thường được đưa ra để giải thích cho khuynh hướng này. Thứ nhất, mặc dù CISG được biết đến khá rộng rãi thì mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trên thực tế vẫn rất thấp. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật trong nước của họ hơn theo thói quen. Thứ hai, bất cứ khi nào một bên trong hợp đồng có ưu thế cho phép thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mình hơn áp dụng cho hợp đồng. Thứ ba, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi ích của CISG so với các luật trong nước về hợp đồng. Tuy nhiên, những lập luận này không có tính thuyết phục vì một số lí do sau đây

Mặc dù hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bên được tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ thì điều này lại không đúng ở phần còn lại của thế giới. Nhiều nước đang phát triển và các nước chuyển đổi e ngại dành cho các thương nhân phương tây quá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật. Ví dụ ở Brazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết. Do đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợp đồng mua bán. Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luật khó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận.

Bên cạnh đó, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu áp dụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ra tòa án của một nước khác. Đầu tiên, luật được chọn phải được chứng minh tại tòa. Điều này bao hàm việc dịch các đạo luật và các văn bản pháp lý khác như các quyết định của tòa án, các bài nghiên cứu sang ngôn ngữ của tòa. Đồng thời việc yêu cầu tư vấn chuyên gia cũng rất cần thiết. Ở một số nước các chuyên gia có thể do tòa chỉ định, trong khi ở nhiều nước khác một bên phải tự đề cử chuyên gia của mình. Chúng ta đều biết rằng tất cả những việc này đều rất tốn kém. Thậm chí nếu một bên có ý thức chịu mọi chi phí để chứng minh luật nước mình tại tòa, họ vẫn sẽ phải đối mặt với sự khó dự đoán liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật này bởi tòa án nước ngoài và đôi khi là sự sai lệch hoàn toàn. Tất nhiên càng ngày càng có nhiều tranh chấp về luật mua bán hàng hóa quốc tế không bị kiện ra các tòa án quốc gia mà thường được giải quyết bởi trọng tài thương mại quốc tế. Vấn đề chứng minh luật trong nước và bản dịch của nó vẫn cần thiết khi luật này không thể tiếp cận được bằng tiếng Anh. Trong hoàn cảnh này, làm thế nào để các trọng tài – những người đến từ các hệ thống pháp luật khác nhau có thể áp dụng luật của một nước khác.

Trong nhiều trường hợp, các bên cố gắng giải quyết các vấn đề trên bằng việc viện dẫn đến luật mà họ tin là “luật trung lập” mặc dù họ thường nhầm lẫn giữa sự trung lập chính trị với sự phù hợp của luật được chọn cho các giao dịch quốc tế. Điều này đúng cho trường hợp luật Thụy Sỹ. Nếu các bên chọn một luật (trung lập) của nước thứ ba, họ thậm chí có thể rơi vào hoàn cảnh xấu hơn là chọn luật của chính một trong các bên. Đầu tiên, họ phải tìm hiểu về luật nước ngoài này. Hơn nữa, khó khăn và chi phí trong việc chứng minh nó thậm chí còn nặng nề hơn. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là luật mua bán trong nước của Thụy Sỹ có thể khó dự đoán và không phù hợp với các hợp đồng quốc tế ở một số điểm cốt lõi. Tất cả những thiếu sót của luật trong nước nói trên có thể tránh được bằng việc áp dụng CISG. Văn bản của CISG không chỉ có sẵn bằng 6 ngôn ngữ chính thức mà còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác. Các quyết định của tòa, phán quyết trọng tài cũng như các bài nghiên cứu cũng được viết hoặc dịch ra tiếng Anh. Chúng có thể được tiếp cận dễ dàng không chỉ qua sách báo mà còn trên các trang web. Một số lượng lớn các tài liệu pháp lý sẵn có là cơ sở để chúng ta tin rằng các thẩm phán và trọng tài có thể tiếp cận được  thông tin cần thiết và áp dụng CISG dưới hình thức có thể dự đoán được.

Tóm lại, việc tiếp cận CISG tốt hơn sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí, và kết quả của các vụ kiện cũng dễ dự đoán hơn. Điều này là lợi thế cơ bản của CISG khi so sánh với việc áp dụng luật trong nước.

Theo Tạp chí Luật So sánh Hoa Kỳ (nguồn:  MOIT)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 19, 2012 in Khác

 

Điều tra về Công ước Viên 1980

Điều tra này được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu về Pháp luật TMQT (ĐH Ngoại Thương) và Hãng luật EP Legal để có cơ sở thực tế phân tích rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp về vấn đề luật áp dụng và lợi ích của doanh nghiệp trong việc áp dụng Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980 hay CISG), từ đó đưa ra kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc Việt Nam tham gia Công ước này. Mọi thông tin liên quan đến phiếu điều tra này sẽ được giữ bí mật và sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích khoa học.

Vui lòng truy cập spreadsheets.google.com hoặc cisgvn.co.cc để tham gia điều tra. Điều tra này chỉ mất 2 phút để thực hiện. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự tham gia nhiệt tình của các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và nhà thực hành luật có hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế. Read the rest of this entry »

 
 

Bàn về khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng theo Công ước Viên 1980

ThS. Võ Sỹ Mạnh

Vi phạm cơ bản hợp đồng!

Thuật ngữ pháp lý này có lẽ không còn xa lạ với giới nghiên cứu luật pháp cũng như những người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, thậm chí là các doanh nghiệp kể từ ngày 14/6/2005 – ngày mà Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 được Quốc hội khóa 11 thông qua. Vi phạm cơ bản hợp đồng, theo quy định tại khoản 13 điều 3 Luật Thương mại năm 2005, là “sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích giao kết hợp đồng”. Đây cũng là cơ sở để áp dụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng hoặc đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc hủy bỏ hợp đồng.[1] Read the rest of this entry »

 
1 Phản hồi

Posted by on Tháng Tư 9, 2011 in Nội dung CISG, Nghiên cứu về CISG

 

Áp dụng Điều 19 Công ước Viên với các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có sử dụng điều khoản soạn sẵn

(The application of Article 19 of CISG for international sale transactions using standard forms)

ThS. Võ Sỹ Mạnh

Ngày nay, trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, để tiết kiệm thời gian và chi phí, người bán và người mua thường sử dụng các điều khoản soạn sẵn để tiến hành giao dịch với nhau. Các điều khoản soạn sẵn thường được soạn thảo theo hướng có lợi cho bên soạn thảo. Do vậy, thực tiễn giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế giữa các bên sử dụng hợp đồng mẫu có chứa các điều khoản soạn sẵn sẽ làm phát sinh xung đột về quan điểm giữa các bên về các điều khoản soạn sẵn đó. Bài viết này phân tích các trường hợp giao kết hợp đồng có sử dụng điều khoản soạn sẵn thông qua việc áp dụng Điều 19 của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước Viên). Read the rest of this entry »

 

Danh sách các quốc gia thành viên

Nguồn: uncitral.org/

Tham khảo thêm: cisg.law.pace.edu

Read the rest of this entry »

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 18, 2011 in Các quốc gia thành viên

 

Các nước với CISG – Bức tranh nhiều màu sắc

1. Vương quốc Anh – Tự hào truyền thống

Sau 30 năm ra đời, CISG vẫn chưa được Vương quốc Anh phê chuẩn. Tuy nhiều quốc gia đã trở thành thành viên của Công ước (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc,…) nhưng cường quốc này vẫn đứng ngoài cuộc và không hề có động thái chính thức nào về việc tham gia. Nhiều lý do đã đươc đưa ra để giải thích tại sao CISG được áp dụng phổ biến tại các quốc gia nhưng Vương quốc Anh vẫn chưa gia nhập Công ước này[1]. Giải thích phổ biến nhất là Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh là một văn bản có sức ảnh hưởng rất lớn trong mua bán hàng hóa quốc tế, và là niềm tự hào của các luật gia Anh. Việc tham gia CISG có thể làm giảm sức ảnh hưởng này và với một quốc gia bảo thủ như Vương quốc Anh, đây không phải là điều họ mong muốn. Read the rest of this entry »

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Một 3, 2010 in Các quốc gia thành viên

 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 25 other followers