RSS

Vi phạm cơ bản hợp đồng

Theo quy định của CISG, khi một bên vi phạm hợp đồng và vi phạm đó là vi phạm cơ bản thì bên kia có quyền hủy hợp đồng. Khái niệm “vi phạm cơ bản” vì vậy là khái niệm trung tâm trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh do vi phạm HĐ. Thực tiễn tranh chấp trong kinh doanh quốc tế cho thấy không dễ dàng đề xác định đâu là vi phạm cơ bản. Các án lệ sau đây sẽ cho thấy cách thức mà tòa án/trọng tài xác định tính chất cơ bản của một vi phạm hợp đồng đối với các vi phạm khác nhau của người bán và người mua.

1. NGƯỜI BÁN TUYÊN BỐ NGỪNG GIAO HÀNG

Tranh chấp giữa Bên mua là các công ty của Achentina và của Hungary, Bên bán là một công ty của Nga. Bên mua kiện bên bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã không giao hàng như cam kết. Bên bán, ngược lại, cho rằng chính bên mua đã vi phạm cơ bản hợp đồng vì đã chậm thanh toán. Tranh chấp được xét xử tại Hội đồng trọng tài Zurich, phán quyết tuyên ngày 31/05/1996. Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp do Nga, Achentina và Hungary đều là các quốc gia thành viên của CISG.

Diễn biến tranh chấp

Từ năm 1991, một người bán Nga (một tổ chức của Chính phủ) ký kết một số hợp đồng bán nhôm cho một số người mua có trụ sở kinh doanh ở Achentina và Hungary (sau đây gọi là Bên mua). Việc giao hàng được tiến hành đúng thời hạn cho tới khi công ty người bán chuyển quyền sở hữu cho một công ty tư nhân của Nga. Công ty này ngay lập tức tuyên bố sẽ không tiếp tục thực hiện việc giao hàng.

Trong quá trình trao đổi thư từ giữa hai bên sau đó, Bên mua lưu ý rằng, họ sẽ phải chịu những thiệt hại nặng nề nếu như hàng hoá không được giao đúng hạn. Bên bán đưa ra hoá đơn theo đó ghi rõ số tiền cụ thể đòi bên mua phải thanh toán theo nhiều chuyến hàng trước đó. Bên bán cho rằng, việc Bên mua trì hoãn thanh toán tiền hàng những lô hàng trước dẫn tới vi phạm cơ bản nghĩa vụ của Bên mua theo hợp đồng, do vậy, Bên bán có quyền từ chối thực hiện hợp đồng.

Bên mua đề nghị đàm phán để giải quyết tranh chấp nhưng Bên bán từ chối. Bên mua đã kiện Bên bán ra trọng tài đòi bồi thường các khoản thiệt hại phát sinh do không giao hàng.

Phân tích và quyết định của trọng tài

- Về việc người bán vi phạm nghĩa vụ giao hàng: Trọng tài phán xét rằng, việc người bán ngừng giao hàng dẫn tới vi phạm nghĩa vụ của người bán theo điều 30 CISG. Hơn nữa, người bán lại tuyên bố rõ là từ chối thực hiện nghĩa vụ giao hàng, điều này khiến cho vi phạm của người bán cấu thành vi phạm cơ bản theo điều 25 CISG và vì vậy, bên mua được quyền tuyên bố huỷ hợp đồng mà không cần phải gia hạn cho người bán (theo điều 49.1.a CISG).

– Việc người mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán: Để xem xét liệu vi phạm của Bên mua về nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng giao hàng từng phần có phải là vi phạm cơ bản hay không, trọng tài đã trích dẫn điều 73.2 CISG, “nếu một bên không thực hiện một nghĩa vụ có liên quan đến bất cứ lô hàng nào cho phép bên kia có lý do xác đáng để cho rằng sẽ có một sự vi phạm cơ bản với các lô hàng sẽ được giao trong tương lai thì họ có thể tuyên bố huỷ hợp đồng đối với các lô hàng tương lai đó”. Trọng tài lập luận rằng, không có chứng cứ chỉ ra việc Bên mua không thể hay không có thiện chí thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, vì trên thực tế, Bên mua vẫn có khả năng thanh toán và vẫn muốn đàm phán với Bên bán về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng. Hơn nữa, Bên bán đã không gia hạn thêm cho việc thanh toán và vì thế không thể đòi hủy hợp đồng theo điều 64.1.b CISG.           Trọng tài chỉ thêm rằng, việc Bên bán từ chối đàm phán với Bên mua đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí.

Với những lập luận nói trên, trọng tài ra phán quyết người mua được đòi bồi thường những thiệt hại cho những tổn thất thực tế của họ (bao gồm chi phí lưu kho và chi phí tài chính phát sinh do việc ngừng giao hàng), theo điều 74 CISG.

Bài học kinh nghiệm

- Thứ nhất, nếu không vì lý do bất khả kháng, người bán không nên tự động tuyên bố việc ngừng thực hiện hợp đồng, nếu không, vi phạm của người bán sẽ bị coi là vi phạm cơ bản và người bán sẽ phải bồi thường những thiệt hại đối với người mua do việc vi phạm hợp đồng của người bán gây ra.

- Thứ hai, người bán muốn quy kết người mua vi phạm cơ bản hợp đồng thì phải có những căn cứ xác đáng và bằng chứng chứng minh. Trong trường hợp người mua chậm thanh toán, đây không được coi là vi phạm cơ bản, người bán không có quyền ngay lập tức hủy hợp đồng. Người bán phải gia hạn cho người mua một thời hạn hợp lý để người mua thực hiện nghĩa vụ. Nếu hết thời hạn này mà người mua vẫn không thanh toán thì người bán có quyền hủy hợp đồng và đòi các thiệt hại phát sinh (theo điều 64 CISG).

- Thứ ba, người bán không nên từ chối việc đàm phán với người mua để giải quyết các tranh chấp. Điều này thể hiện sự không thiện chí, thiếu hợp tác của người bán và mâu thuẫn với nguyên tắc thiện chí và trung thực trong thương mại quốc tế. Đây sẽ là điểm bất lợi cho người bán trong quá trình khiếu nại, kiện tụng.

2. NGƯỜI BÁN CHẬM GIAO HÀNG

Thông thường, khi người bán chậm giao hàng, người mua không được quyền hủy hợp đồng mà chỉ được đòi bồi thường thiệt hại. Tuy vậy, trong một số tình huống nhất định, người mua có quyền hủy hợp đồng ngay khi người bán không thể giao hàng khi hết thời hạn.

Tranh chấp giữa công ty Diversitel Communications Inc. (Canada) và công ty Glacier Bay Inc. (Mỹ). Người bán Mỹ không giao hàng khi hết thời hạn quy định trong hợp đồng. Hai bên tranh cãi về việc liệu người mua Canada có quyền hủy hợp đồng hay không. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Công lý tối cao tại Ontario (Ontario Supreme Court of Justice), phán quyết tuyên ngày 06/10/2003.

Diễn biến tranh chấp:

Người mua Canada và người bán Mỹ đã ký kết một hợp đồng mua bán hệ thống cách nhiệt chân không. Để đáp ứng những thỏa thuận đã tồn tại từ trước tới nay với Bộ quốc phòng Canada về chất lượng thiết bị và quá trình lắp đặt hệ thống tại một nhà máy ở Bắc Cực, người mua đã cố định một lịch trình giao hàng cụ thể.

Người mua đã thanh toán theo giá hợp đồng nhưng người bán không giao hàng trong thời gian đã thỏa thuận. Người mua đã kiện người bán ra Tòa án Công lý tối cao bang Ontario yêu cầu hủy hợp đồng. Người bán không đồng ý, cho rằng người bán không có đủ căn cứ để hủy hợp đồng.

Phân tích và quyết định của tòa án.

Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì Canada và Mỹ đều là thành viên của Công ước này.

Để xem xét hợp đồng có thể bị hủy hay không, tòa đã dẫn chiếu điều 25 CISG: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.

Tòa cho rằng lịch trình giao hàng đã ấn định trong hợp đồng và đây là yếu tố vô cùng quan trọng đối với người mua. Lý do là vì thiết bị do người bán cung cấp sẽ phải được lắp đặt trong một khoảng thời gian ngắn tại Bắc Cực. Mùa hè ở Bắc Cực rất ngắn nên nếu người bán giao hàng chậm, người mua sẽ không lắp đặt được thiết bị theo thỏa thuận với Bộ Quốc phòng Canada và như vậy, người mua sẽ không đạt được mục đích của mình khi giao kết hợp đồng với người bán. Người bán cũng biết về tầm quan trọng đó vì trên thực tế, người bán đã biết rằng những thiết bị do người bán cung cấp sẽ được lắp đặt tại Bắc Cực tuân theo những thỏa thuận có trước giữa người mua với Bộ quốc phòng Canada. Do vậy, người bán đã vi phạm nghĩa vụ cơ bản của hợp đồng.

Với lập luận nói trên, tòa tuyên bố người mua có quyền hủy hợp đồng (theo điều 49, khoản 1- CISG), đòi lại số tiền đã thanh toán cho người bán.

Bình luận và bài học kinh nghiệm:

Án lệ này là ví dụ điển hình về việc chậm giao hàng cấu thành vi phạm cơ bản hợp đồng. Về nguyên tắc, trong mua bán hàng hóa quốc tế, việc người bán chậm giao hàng thường không cấu thành vi phạm cơ bản, nếu sau đó, hàng hóa vẫn có thể được người mua sử dụng cho mục đích của mình. Tuy vậy, trong án lệ trên, và trong một số trường hợp khác đã được tổng kết từ thực tiễn xét xử (hàng mùa vụ, thời hạn giao hàng là một ngày cụ thể, người mua đã thông báo về nhu cầu hàng gấp của mình), khi thời hạn giao hàng là một yếu tố quan trọng của hợp đồng thì thì người mua có quyền hủy hợp đồng khi người bán không thể giao hàng trong thời hạn đã thỏa thuận.

Tham khảo thêm Bản án của Toà Phúc thẩm Mi-lan (Italia) ngày 20/3/1998 và Phán quyết trọng tài ICC số 8128 năm 1995 (tại www.unilex.info)

3. THÔNG BÁO & THỜI HẠN THÔNG BÁO VỀ TÌNH TRẠNG CỦA HÀNG HÓA CHO BÊN BÁN

Trong trường hợp sau khi người bán giao hàng cho người mua, người mua phát hiện có những hàng hóa bị hư hỏng, không đủ khối lượng, không đảm bảo chất lượng như đã thỏa thuận, người mua hàng sẽ có quyền từ chối thanh toán số hàng đó với giá theo thỏa thuận ban đầu (Điều 50 CISG). Song để đảm bảo được hưởng quyền trên, người mua cũng có nghĩa vụ phải thông báo cho người bán về những sự việc này trong một thời gian hợp lý để đảm bảo hạn chế đến mức tối thiểu các thiệt hại có thể xảy ra (Điều 39 (1) CISG).

Diễn biến tranh chấp:

Một hợp đồng mua bán khoai tây được ký kết giữa Người bán Cộng hòa Czech và người mua Slovak.  Vào ngày 11/6/2004 người bán giao 12.000 kg hàng cho người mua. Cùng ngày, trong lúc chuyển giao hàng hóa, công nhân của người mua phát hiện có 144kg khoai tây không đạt chất lượng như đã cam kết. Song, để chắc chắn về việc này, người mua đã tiến hành kiểm tra cẩn thận, thì, vào ngày 14/6 người mua lại phát hiện có 3.680 kg khoai tây kém chất lượng. Do đó, cùng ngày, người mua đã thông báo cho người bán về việc khoai tây không đạt tiêu chuẩn theo thỏa thuận cùng với ý định hồi trả lượng hàng hóa. Và, để giảm thiểu thiệt hại, người bán đề nghị được rửa lượng khoai tây của mình tại cơ sở của người bán; người bán đồng ý. Sau đó, các bên đã đồng ý rằng người mua được bồi thường chi phí phát sinh và những thiệt hại do việc hàng hóa không đạt chất lượng như cam kết gây ra. Do đó, người mua sẽ được giảm giá mua hàng. Cuối cùng, người bán yêu cầu được thanh toán đối với mẻ hàng khác đã được giao tới người mua, và đơn phương khấu trừ khoản nợ đó với số tiền tương ứng với khoản thiệt hại do việc hàng hóa không đạt chất lượng như đã cam kết gây ra. Tuy nhiên sau đó, người bán đã khởi kiện người mua về giá thanh toán.

Phán quyết của Tòa án:

Tòa án sơ thẩm đã đứng về phía người mua bằng cách áp dụng Luật Slovak và yêu cầu người bán phải hoàn trả chi phí của vụ kiện cho người mua. Người bán đã kháng cáo.

Tòa phúc thẩm đã hoàn trả hồ sơ này cho toà án cấp dưới và yêu cầu điều tra thêm vì theo họ, cả hai bên của hợp đồng đều có địa điểm kinh doanh thuộc các quốc gia tham gia Công ước Viên về mua bán hàng hóa (CISG), và điều (Điều 1(1)(a) CISG) đã không được áp dụng khi Tòa cấp dưới xét xử vụ việc.

Sau khi xem xét lại các bằng chứng do các bên cung cấp, Tòa án đã đi đến kết luận rằng thông báo của người mua về việc hàng hóa không đạt chất lượng đã tuân thủ yêu cầu được đặt ra tại Điều 39 CISG. Thực vậy, người bán đã thông báo cho người mua về việc hàng hóa không đáp ứng được chất lượng như đã thỏa thuận vào ngày làm việc tiếp theo sau ngày kiểm tra kỹ. Kết quả, Tòa án đã tuyên bố người mua được quyền để từ chối thanh toán theo giá gốc đã được thỏa thuận trước và bác bỏ yêu cầu bồi thường của người bán.

Bài học kinh nghiệm:

Bên mua nên thiện chí thông báo cho bên bán trong một thời hạn hợp lý trong trường hợp bên mua nhận được hàng hóa từ bên bán không đúng như thỏa thuận ban đầu để bên mua vừa có thể hưởng được quyền giảm giá thanh toán vừa giảm thiểu được thiệt hại có thể xảy, đồng thời việc thông báo này có thể là tiên đề để các bên có thể tiếp tục mối quan hệ làm ăn lâu dài.

4. CHẤM DỨT THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG DO BÊN KIA VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG

Trường hợp, bên bán thấy rõ được bên mua sẽ vi phạm nghiêm trọng các điều khoản của Hợp đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên bán sẽ có quyền chấm dứt việc thực hiện hợp đồng và yêu cầu bên mua bồi thường thiệt hại. Điều 53, 71 và 75 của CISG quy định rõ trường hợp này sẽ được giải quyết như thế nào.

Diễn biến vụ việc:

Giữa tháng 4 và 10/2007, người bán Hàn Quốc và Người mua Hoa Kỳ cùng kết ký một loạt Hợp đồng sản xuất và phân phối khoảng 500.000 quần áo phụ nữ đến địa điểm kinh doanh của người mua tại Hoa Kỳ. Theo các điều khoản về đơn đặt hàng, người mua có nghĩa vụ thanh toán cho người bán trong vòng 15 ngày sau khi nhận được hàng. Vào tháng 7 và tháng 8 năm 2007, người bán đã gửi một phần đơn đặt hàng đã nhận được cho dù chưa được người mua thanh toán. Suốt tháng 10 và 11 sau đó, nhận được cam kết chắc chắn người mua sẽ thanh toán cho các lô hàng đã được giao, người bán tiếp tục gửi phần lô hàng may mặc còn lại. Sau đó, người bán đã đồng ý giảm giá cho người mua và thanh toán trong năm đợt, nhưng, người mua đã không tuân thủ đúng việc thanh toán theo kế hoạch đã cam kết, do vậy, người bán đã tạm ngưng các đợt giao hàng tiếp theo và giữ lại một vài lô hàng may mặc tại Los Angeles. Sau khi hoàn thành một số vấn đề để bảo vệ hàng hóa và thu được một số tiền từ việc bán hàng của mình, người bán đã khởi kiện người mua.

Phán quyết của Tòa án:

Tòa án đã xác định hợp đồng này được điều chỉnh bởi CISG vì các bên tham gia hợp đồng đều có địa điểm kinh doanh tại các nước tham gia CISG (Điều 1(1)(a) CISG).

Theo các sự kiện của vụ tranh chấp, Tòa án thấy người mua vi phạm hợp đồng đã ký với người bán, vì đã không thanh toán cho số hàng hóa đã được phân phối theo quy định tại Điều 53 CISG. Tòa án đã tuyên bố người bán có quyền thu hồi số tiền chênh lệch giữa tổng giá hợp đồng và giá gửi hàng trong tháng 7, tháng 8 và tháng 10.

Người bán cũng yêu cầu được thanh toán những thiệt hại cho các lô hàng may mặc đã được sản xuất nhưng không được phân phối. Xem xét Điều 71 CISG, Tòa án thấy, bên bán có đầy đủ quyền để chấm dứt việc phân phối lô hàng cuối cùng cho bên mua, vì theo thực tế giao nhận hàng trước đó bên bán đã biết chắc chắn việc giao lô hàng cuối này sẽ không thể nhận được sự thanh toán từ bên mua. Hơn nữa, theo Điều 72 CISG, điều này cho phép một trong các bên của hợp đồng có thể chấm dứt hợp đồng trước ngày thực hiện nếu có dấu hiệu rõ ràng rằng Bên còn lại của hợp đồng sẽ thực hiện những vi phạm nghiêm trọng trong Hợp đồng, do đó Tòa án thấy việc chấm dứt hợp đồng của người bán và giữ lại hàng hóa là phù hợp với quy định của CISG. Sau khi chấm dứt hợp đồng, bên bán có quyền thực hiện việc bán hàng hóa cho người khác và yêu cầu bồi thường thiệt hại giữa khoản chênh lệch giữa giá bán lại và giá hợp đồng hoặc khoản chênh lệch giữa giá hiện tại và giá trong hợp đồng (Điều 75-76 CISG).

Tòa án cũng chú ý rằng có trường hợp người bán đã thực hiện các biện pháp khắc phục đầu tiên, nhưng vẫn chưa bán lại được các lô hàng may mặc vì e ngại việc bán lại này sẽ dẫn đến vi phạm pháp luật về nhãn hiệu. Để giải quyết vấn đề này, dựa trên án lệ Hoa Kỳ, toà án chỉ ra khi người bán sản xuất hàng hóa đã được đăng ký nhãn hiệu theo đơn đặt hàng từ chủ sở hữu nhãn hiệu, và sau đó bị từ chối việc thanh toán một cách vô lý, thì người bán sẽ được cấp phép để bán những hàng hóa đó mà không bị vi phạm pháp luật sở hữu trí tuệ về đăng ký nhãn hiệu. Theo đó, Tòa án phán quyết rằng bên mua phải bồi thường một số tiền $840.085,94 cho bên bán và bên bán có thể bán số sản phẩm may mặc do mình sản xuất mà không bị coi là vi phạm các quyền nhãn hiệu của người mua.

Bình luận, bài học kinh nghiệm

Bên bán hoàn toàn có thể chấm dứt Hợp đồng mua bán hàng hóa với bên mua trước thời hạn đã được thỏa thuận trong Hợp đồng, nếu có dấu hiệu rõ ràng, hợp lý rằng bên mua sẽ không thể thực hiện được những nghĩa vụ quan trọng của Hợp đồng mặc dù bên bán đã thực hiện Hợp đồng một cách trung thực và thiện chí theo quy định của CISG.

Điều 415 Bộ Luật Dân Sự 2005 của Việt Nam cũng có quy định cho phép bên phải thực hiện nghĩa vụ trước có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ nếu ‘tài sản của bên kia đã bị giảm sút nghiêm trọng đến mức không thể thực hiện được nghĩa vụ như đã cam kết cho đến khi bên kia có khả năng thực hiện được nghĩa vụ hoặc có người bảo lãnh’’.[1] Song, quy định này vẫn chưa cho người bán trong sự việc trên có quyền chấm dứt hợp đồng, mà phải đợi cho đến khi người mua có khả năng thực hiện hợp đồng hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba nào đó. Như vậy, rất có thể thiệt hại lại càng lớn hơn, thậm chí bên bán sẽ không thể giải quyết tình trạng hàng hóa, dẫn đến phá sản hoặc giải thể vì thiếu vốn sản xuất. Rõ ràng, quy định của CISG giúp người bán tối thiểu hóa được thiệt hại có thể xảy ra cho mình lẫn cho bên mua.

Về phía người mua, nếu không thể thanh toán cho bên bán theo đúng thỏa thuận ban đầu vì những lý do không lường trước trong kinh doanh, người mua hoàn toàn có thể thông báo, thỏa thuận lại với bên bán về thời hạn thanh toán trên tinh thần hợp tác, không nên giữ thái độ im lặng khiến cho việc thực hiện hợp đồng có thể bị chấm dứt, đồng thời góp phần hạn chế những thiệt hại cho bên bán vì nếu có sự thỏa thuận lại thì bên bán có thể hạn chế việc sản xuất các lô hàng sau này.

Ngoài ra, khi giao dịch mua bán hàng hóa với các đối tác Hoa Kỳ, bên Việt Nam nên cẩn trọng đối với việc tòa án xét xử tại Hoa Kỳ có thể áp dụng án lệ và pháp luật Hoa kỳ cho những trường hợp tương tự mà CISG không quy định (như vấn đề vi phạm quyền nhãn hiệu). Việc áp dụng này thường có lợi hơn cho bên bán. Vì vậy bên Việt Nam nên cố gắng thỏa thuận quy định tòa án/tòa trọng tài ở Việt Nam hoặc một nước thứ ba để giảm thiểu việc lạm dụng này.

 

2 responses to “Vi phạm cơ bản hợp đồng

  1. ha_trang

    Tháng Ba 17, 2011 at 10:35 sáng

    Qua lời giới thiệu của một đối tác, công ty TNHH A của Hàn Quốc biết được rằng công ty cổ phần B của Việt Nam đang cần mua màn hình LCD của Sam sung. Ngày 15/3/2009 công ty TNHH A (Hàn Quốc) gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến công ty cổ phần B (Việt Nam) để chào bán 100 màn hình LCD Samsung với giá X, thời hạn trả lời cuối cùng là ngày 31/3/2009 (đến hết 5h chiều giờ Hàn quốc). Theo đề nghị, nếu B đồng ý, A sẽ giao hàng cho B trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được chấp nhận đề nghị của B. Ngày 28/3/2009, công ty B đã fax trả lời A với nội dung đồng ý mua 100 màn hình LCD nói trên và thêm rằng A sẽ giao hàng cho B theo điều kiện CIF Hải Phòng Incoterms 2000. Nhận được fax của B, A không trả lời. Đến 3h30 chiều ngày 31/3, B quyết định không mua hàng nữa do giá LCD trên thị trường giảm xuống đột ngột, liền fax sang cho A.
    Giả sử đến ngày 5/4, B nhận được thông báo của A theo đó A sẽ giao hàng cho bên chuyên chở vào ngày 15/4, và hàng sẽ đến cảng Hải phòng vào ngày 25/4. Sau khi nhận được thông báo của A, B đã fax lại và khẳng định rằng B từ chối mua hàng của A. A vẫn cứ tiến hành giao hàng cho B và đề nghị B thanh toán. B không nhận hàng và từ chối thanh toán.
    Vậy hợp đồng giữa A và B đã hình thành chưa nếu áp dụng Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế. A và/hoặc B có vi phạm hợp đồng nếu có không? Giả sử B gửi đơn kiện lên Tòa kinh tế Tòa án Thành phố Hà nơi B có trụ sở, Tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này không, biết rằng giữa A và B không có thỏa thuận trọng tài.

     
  2. cisgvn

    Tháng Một 19, 2012 at 11:50 sáng

    Giả định này rất hay, liên quan đến phần hình thành HD mua bán hàng hóa, Mod xin chuyển comment này sang mục Án lệ hình thành HD mua bán hàng hóa.

    Tkx,
    Mod

     

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: