RSS

Vấn đề sửa đổi khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trong luật thương mại để gia nhập công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 (CISG)(1) đóng vai trò quan trọng trong quá trình thống nhất luật pháp quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hoá. Hiện nay, trên thế giới đã có 76 quốc gia tham gia Công ước,(2) trong đó nhiều quốc gia là đối tác kinh tế, thương mại của Việt Nam như: Hoa Kỳ, Singapore, Pháp… Việc gia nhập CISG là đòi hỏi khá cấp thiết trong điều kiện Việt Nam ngày càng gia tăng các quan hệ thương mại quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, để gia nhập CISG thì pháp luật thương mại của Việt Nam cần được rà soát kĩ lưỡng để sửa đổi, bổ sung tương thích với các quy định của CISG, loại bỏ dần những điều khoản chưa phù hợp mà không thuộc trường hợp có thể bảo lưu theo quy định tại các điều 11, 12, 29 và 96 của CISG. Một trong các quy định cơ bản, bao trùm cần được ưu tiên xem xét là khái niệm pháp lí “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam trên cơ sở tương thích với pháp luật quốc tế.

1. Khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam

Luật thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hoá (Chương II), trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về mua bán hàng hoá quốc tế và không có điều luật nào xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Khoản 2 và khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hoá bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.

“Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá. Trước tiên, hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hoá.(3) Mặc dù Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng trên cơ sở Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, chúng ta có thể vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá như sau: Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hoá cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và trả tiền cho bên bán.(4) Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp luật dân sự (hiểu theo nghĩa rộng).

Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá mà chỉ quy định về mua bán hàng hoá quốc tế tại Điều 27 như sau:

“1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

  1. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương”.

Như vậy, khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 đã liệt kê các hình thức cụ thể của việc mua bán hàng hoá quốc tế, bao gồm 5 hình thức:

  • Xuất khẩu;
  • Nhập khẩu;
  • Tạm nhập, tái xuất;
  • Tạm xuất, tái nhập;
  • Chuyển khẩu.

Từ đó có thể suy luận rằng hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo pháp luật Việt Nam là văn bản thoả thuận của các cá nhân, tổ chức trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái  nhập và chuyển khẩu hàng hoá. Hai hay nhiều bên tham gia giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế – một loại giao dịch dân sự(5) hoặc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế – một loại hợp đồng dân sự(6) theo pháp luật Việt Nam có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài; có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài. Nghĩa là, theo quy định của Luật thương mại năm 2005, hoạt động mua bán hàng hoá được coi là mua bán hàng hoá quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam hay nước ngoài. Luật thương mại năm 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hoá qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hoá là mua bán hàng hoá quốc tế.

Mặt khác, Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay  đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước  ngoài” theo Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005. Căn cứ quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005, chúng ta có thể xác định các dấu hiệu của quan hệ mua bán hàng hoá là “có yếu tố nước ngoài” như sau:

  • Ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hoá là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài;
  • Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hoá theo pháp luật nước ngoài;
  • Hàng hoá – đối tượng mua bán ở nước ngoài.

Trong khi đó, “mua bán hàng hoá quốc tế” theo Luật thương mại năm 2005 chỉ căn cứ vào tiêu chí duy nhất là hàng hoá được vận chuyển qua biên giới.

Về nguyên tắc, Bộ luật dân sự với tư cách là luật “gốc” sẽ có hiệu lực áp dụng đối với các hoạt động thương mại chưa được điều chỉnh bởi Luật thương mại. Theo khoản 3 Điều 4 Luật thương mại năm 2005, “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”. Mặc dù vậy, hai thuật ngữ pháp lí “quốc tế” và “yếu tố nước ngoài” hiện nay vẫn đang tồn tại song song trong hệ thống pháp luật Việt Nam và có sự khác biệt về nội hàm. Hệ quả là khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” của Luật thương mại năm 2005 (một trong những luật chuyên biệt) đã được xây dựng không thống nhất với nguyên tắc xác định “yếu tố nước ngoài” của Bộ luật dân sự năm 2005 (luật “gốc”).

2.  Khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam chưa tương thích với CISG

Mặc dù CISG không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng Điều 1 của CISG đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như sau:

“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

  1. Khi các quốc gia này là các quốc gia

thành viên của Công ước hoặc,

  1. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
  1. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm kí hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
  2. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này”.

Như vậy, theo quy định tại Điều 1 của CISG thì yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được xác định bởi một yếu tố duy nhất là trụ sở thương mại của các bên phải đặt tại các quốc gia khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm kí kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hoá có được dịch chuyển qua biên giới hay không. Qua đó chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế theo Luật thương mại năm 2005 và CISG.

Ngay cả khi Việt Nam chưa gia nhập CISG thì căn cứ Điều 1.1 (b) đã viện dẫn ở trên, CISG vẫn có hiệu lực áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia trong trường hợp theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG kí hợp đồng mua bán hàng hoá với Việt Nam.(7) Vì vậy, sự không thống nhất về nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ gây ra khó khăn và những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia.

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là căn cứ quan trọng để xác định những hợp đồng mua bán hàng hoá nào có thương nhân Việt Nam tham gia được áp dụng theo các quy định pháp luật về hợp đồng hàng hoá quốc tế nói chung và CISG nói riêng. Trước đây, trong Luật thương mại năm 1997 (đã hết hiệu lực) có định nghĩa về “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”. Thuật ngữ “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài” không phù hợp với CISG. Lẽ ra khi ban hành Luật thương mại năm 2005 thay thế Luật thương mại năm 1997 thì định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài phải được thay thế bằng định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng trong Luật thương mại năm 2005 lại không có định nghĩa này. Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 chỉ nêu ra các hình thức mua bán hàng hoá quốc tế và  khoản  2  Điều  27  quy  định  “mua bán

hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương” mà không đề cập hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Từ đó buộc phải hiểu một cách “suy diễn” rằng hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản ghi nhận nội dung thoả thuận giữa các bên về việc mua bán hàng hoá có yếu tố quốc tế. Tuy nhiên, yếu tố quốc tế đó cũng không được chỉ ra một cách rõ ràng trong khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005. Trong Luật thương mại năm 2005 không có những quy định cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như: khái niệm, phân loại, nội dung cơ bản, thủ tục giao kết, điều kiện có hiệu lực…

Việc xác định phạm vi của hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế bằng cách liệt kê ra các hình thức của mua bán hàng hoá quốc tế tại khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 khiến cho khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế trở nên bị hạn chế, hẹp lại so với quy định tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 và không rõ ràng:

  • Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế hẹp ở chỗ: Nếu căn cứ theo khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế bao gồm 5 hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập và chuyển khẩu. Nghĩa là theo Luật thương mại Việt Nam thì yếu tố quốc tế của mua bán hàng hoá quốc tế chỉ nằm ở điều kiện vận chuyển hàng hoá qua biên giới mà không xem xét đến trụ sở thương mại của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hoá quốc tế. Điều này cũng chưa  phù hợp    với

CISG bởi lẽ CISG quy định phạm vi áp dụng dựa trên duy nhất một điều kiện là các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau.

  • Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế không rõ ràng về mặt ngôn từ thể hiện ở chỗ: Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 nêu ra các hình thức mua bán hàng hoá quốc tế như: “xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”. Như vậy, tổng cộng có 7 hình thức mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên, theo các điều khoản giải thích cụ thể (các điều 28, 29 và 30 Luật thương mại năm 2005) thì thực chất “tạm nhập, tái xuất” là “tạm nhập” đi kèm với “tái xuất” và “tạm xuất, tái nhập” là “tạm xuất” đi kèm với “tái nhập”. Kết quả là chỉ có 5 hình thức mua bán hàng hoá quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập và chuyển khẩu. Lẽ ra hai dấu “,” trong khoản 1 Điều 27 phải thay bằng dấu “-” thì mới đảm bảo diễn đạt chính xác về các hình thức của mua bán hàng hoá quốc tế. Mặt khác, trên thực tế có nhiều hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế mà thương nhân Việt Nam tham gia nhưng không cần có yếu tố xuất khẩu, nhập khẩu như khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 quy định.

Liên quan đến định nghĩa “chuyển khẩu”, Điều 30 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”. Ở đây chúng ta hình dung có sự tham gia của ba bên thương nhân, trong đó có một thương nhân có trụ sở thương mại hoặc nơi cư trú ở Việt Nam đứng

ra mua hàng hoá của thương nhân ở nước xuất khẩu bán cho thương nhân ở nước nhập khẩu. Tuy nhiên, Điều 30 Luật thương mại năm 2005 lại không xác định rõ thương nhân có nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại tại Việt Nam là người thực hiện việc mua hàng từ một nước hoặc vùng lãnh thổ để bán sang nước khác hoặc vùng lãnh thổ khác ngoài Việt Nam. Nếu một thương nhân quốc tịch Việt Nam có trụ sở hoặc nơi cư trú ở chính tại nước xuất khẩu ngoài Việt Nam tiến hành mua hàng hoá của thương nhân khác cũng ở nước xuất khẩu và bán hàng hoá sang nước nhập khẩu ngoài Việt Nam thì liệu có được coi là “chuyển khẩu” trong khi quan hệ mua bán hàng hoá này không hề có liên quan đến quốc gia thứ ba là Việt Nam? Vấn đề chuyển khẩu chỉ nên đặt ra khi thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam đứng ra mua hàng hoá từ nước xuất khẩu để bán cho nước nhập khẩu ngoài Việt Nam. Quy định tại Luật thương mại năm 2005 đã không diễn đạt rõ điều này dẫn đến cách hiểu là bất kì thương nhân nào thực hiện việc mua hàng hoá ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam thì đều được coi là chuyển khẩu.

Hiện nay, Luật thương mại năm 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu).(8)  Trong khi Điều 11 của CISG quy định: “Hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng”. Vì quốc gia thành viên của CISG có thể căn cứ Điều 12 và Điều 96 của CISG để tuyên bố bảo lưu quy định này nên điểm khác biệt về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá giữa Luật thương mại năm 2005 và CISG sẽ không phải là trở ngại đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có nên bảo lưu quy định về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá khi mà hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế diễn ra rất đa dạng và rất nhiều thoả thuận mua bán hàng hoá được thể hiện bằng hành vi cụ thể.

3.  Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra đề xuất như sau:

  • Cần xây dựng, sửa đổi hệ thống khái niệm “mua bán hàng hoá”, “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” của Luật thương mại năm 2005 sao cho tương thích với các quy định của CISG và trên cơ sở định nghĩa “hợp đồng mua bán tài sản” và “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của Bộ luật dân sự Việt Yếu tố “quốc tế” của mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán hàng hoá cần được xác định căn cứ vào điều kiện trụ sở thương mại của các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hoá ở các quốc gia khác nhau, thay vì căn cứ vào điều kiện dịch chuyển hàng hoá qua biên giới (xuất khẩu, nhập khẩu) như quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 như hiện nay.
  • Mua bán hàng hoá quốc tế cần được định nghĩa như  sau:  “Mua  bán  hàng hoá quốc tế là mua bán hàng hoá được thực hiện giữa bên bán và bên mua có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau”.

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cần được định nghĩa như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.

  • Một vấn đề liên quan trực tiếp đến khái niệm “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” là hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Như đã phân tích, một quốc gia thành viên CISG có thể tuyên bố bảo lưu Điều 11 của Công ước này. Mặc dù vậy, Việt Nam nên chuẩn bị sửa đổi quy định về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sao cho phù hợp với CISG (mà không nhất thiết phải bảo lưu) đồng thời thống nhất với hình thức của các loại hợp đồng khác theo quy định pháp luật Việt Nam. Cụ thể là: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng các hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương văn bản (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu) hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể”. Thuật ngữ “hành vi cụ thể” đã được sử dụng tại Điều 401 của Bộ luật dân sự năm “Hành vi cụ thể” được hiểu là những việc làm thực tế, xác thực, có

thể nhận biết được bằng giác quan hay hình dung được dễ dàng,(9) thể hiện rõ ràng ý chí của một bên về sự thoả thuận với bên còn lại. Ví dụ: Hành vi của một bên giao hàng hoá, nhận thanh toán và một bên nhận hàng hoá, thanh toán mà chưa có thoả thuận bằng văn bản về chất lượng hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán và các điều khoản, điều kiện khác. Nếu hình thức xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế “bằng hành vi cụ thể” được chấp nhận thì Luật thương mại năm 2005 cũng cần bổ sung thêm điều khoản giải thích thế nào là “hành vi cụ thể” trong mua bán hàng hoá quốc tế.

  • Ngoài ra, để đồng bộ với việc sửa đổi khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” trong Luật thương mại năm 2005 thì một số quy định cụ thể có liên quan đến lĩnh vực này cũng cần được sửa đổi, bổ sung như: giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, trách nhiệm pháp lí do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế…

Mua bán hàng hoá quốc tế có nhiều điểm đặc thù nên ngoài những quy định pháp luật được áp dụng chung cho hợp đồng mua bán hàng hoá đã có trong Luật thương mại năm 2005, cần có nhóm các quy phạm riêng biệt để điều chỉnh loại hợp đồng này. Cũng có ý kiến cho rằng việc xây dựng, bổ sung các quy định nêu trên là không thực sự cần thiết vì đã được tồn tại trong CISG. Tuy nhiên, với thực trạng các văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này còn thiếu, đặc biệt là Luật thương mại năm 2005 chưa chứa đựng những quy phạm pháp luật đủ để tạo ra khung pháp lí cho hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế; do vậy việc nội luật hoá để gia nhập CISG là cần thiết.

Tóm lại, khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế theo pháp luật Việt Nam chưa tương thích với phạm vi áp dụng của CISG sẽ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia. Để gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan, Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một cách đồng bộ các quy phạm tư pháp quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một trong những vấn đề cơ bản nhất cần nghiên cứu hoàn thiện để làm cơ sở nội luật hoá các quy định của CISG, bổ sung vào hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế của Việt Nam./.

(1) Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 (1980 – United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods)

(2) Tham khảo “Biểu đồ các nước tham gia Công ước Viên”, http://trungtamwto.vn/vandedacbiet/cong- uoc-vien/cac-nuoc-tham-gia-cong-uoc-vien

(3) Theo Điều 388 Bộ luật dân sự năm

(4)Khái niệm hàng hoá đã được nêu tại khoản 2 Điều Xem: Luật thương mại năm 2005.

(5)Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 121 Bộ luật dân sự năm 2005

(6)Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005).

(7) Theo EP Legal và VCCI, Việt Nam tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) Lợi ích và hạn chế, http://www.eple gal.com.vn, tr.

(8).Xem: Khoản 2 Điều 27 và khoản 15 Điều 3 của

Luật thương mại năm 2005.

(9).Xem: Từ điển tiếng Việt, http://www.inform atik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/

(*) Văn phòng luật sư Diệp Nguyễn và cộng sự Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Đỗ Minh Anh

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 13, 2016 in Khác

 

Sự mềm dẻo trong một số điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước Viên của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được Ủy ban Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) soạn thảo và được thông qua tại Hội nghị ngoại giao ngày 11/4/1980. Công ước này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1988 (trong bài viết này gọi tắt là Công ước). Công ước được coi là văn bản pháp luật thống nhất về quy định đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nên được nhiều quốc gia, mặc dù có điều kiện kinh tế, chính trị và pháp luật khác nhau nhưng đã chấp nhận và tham gia một cách rộng rãi. Tính đến năm 1988 có 10 nước kí kết và phê chuẩn Công ước, đến nay Công ước có gần 80 quốc gia thành viên. Với xu hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam là một trong những nước đang chuẩn bị những điều kiện cần thiết nhằm sớm tham gia Công ước này. Để tìm hiểu thêm về Công ước, bài viết này xin giới thiệu một số quy định có tính mềm dẻo của Công ước, qua đó phản ánh phần nào tính chất của thương mại quốc tế và góp phần lí giải cho câu hỏi vì sao Công ước đang ngày càng được nhiều quốc gia tham gia với tư cách thành viên.

Tính mềm dẻo được dùng trong bài viết này được hiểu là sự uyển chuyển, không cứng nhắc trong quy định của Công ước. Sự mềm dẻo trong các quy định của Công ước được thể hiện khá rõ ở cách dùng từ ngữ và nội dung của một số điều khoản trong quá trình giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và áp dụng chế tài khi một bên vi phạm hợp đồng.

1.  Quá trình giao kết hợp đồng

Theo quy định của Công ước thì giao kết hợp đồng thương mại quốc tế được thực hiện thông qua chào hàng (offer) và chấp nhận chào hàng (acceptance). Theo đó, hợp đồng sẽ được xác lập khi bên chào hàng gửi chào hàng cho bên được chào hàng và bên được chào hàng chấp nhận chào hàng này.

Khoản 2 Điều 18 Công ước quy định: “Chấp nhận chào hàng bắt đầu có hiệu lực từ thời điểm tới nơi bên chào hàng”. Tuy nhiên, chấp nhận chào hàng sẽ không phát sinh hiệu lực nếu nó không tới nơi bên chào hàng trong thời hạn nhất định. Trong trường hợp không có quy định về thời gian đó thì thời gian này là thời gian hợp lí (reasonable time). Quy định về “thời gian hợp lí” ở đây là rất mềm dẻo. Bởi vì, việc xác định “thời gian hợp lí” trong trường hợp này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như hoàn cảnh giao dịch, phương tiện giao dịch hoặc cách thức giao dịch… ví dụ, bên chào hàng đưa ra một chào hàng bằng miệng (oral offer) với bên được chào hàng và bên được chào hàng chấp nhận chào hàng đó. Tuy nhiên, sự chấp nhận này chỉ có giá trị làm phát sinh hợp đồng giữa hai

bên nếu chấp nhận này được đưa ra trong thời gian hợp lí. “Thời gian hợp lí” trong trường hợp này là thời gian mà bên được chào hàng phải trả lời ngay lập tức (immediately) bằng miệng đối với đề nghị của bên chào hàng trong lần giao dịch bằng miệng đó.

Điều 19 quy định trả lời chào hàng có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng kèm theo những yêu cầu bổ sung, sửa đổi đối với chào hàng thì được coi là từ chối chào hàng đồng thời tạo ra chào hàng mới (Counter offer).(1)  Tuy nhiên, nếu các yêu cầu sửa đổi,

bổ sung không làm thay đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì vẫn cấu thành chấp nhận chào hàng và kết quả là vẫn tạo ra hợp đồng giữa các bên (trừ trường hợp bên chào hàng phản đối kịp thời bằng miệng hoặc bằng thông báo về sự bổ sung, sửa đổi đó).(2)

Tính mềm dẻo trong quy định này cho phép bên được chào hàng, sau khi nhận được chào hàng, có thể bổ sung những điều khoản của chào hàng để tạo ra hợp đồng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của mình. Đồng thời cũng cho phép bên được chào hàng có thể trở thành bên chào hàng mới khi đưa ra những đề nghị làm thay đổi nội dung cơ bản của chào hàng ban đầu. Các điều khoản được coi là cơ bản của chào hàng trong quy định này là các điều khoản về giá cả, thanh toán, chất lượng, số lượng hàng hoá, địa điểm, thời hạn giao hàng, trách nhiệm của các bên và vấn đề giải quyết tranh chấp của các bên.(3)

Điều 55 quy định về cách xác định giá của hợp đồng khi giá của hợp đồng không được thể hiện trong các điều khoản của hợp đồng. Theo quy định này thì trong trường hợp nếu hợp đồng không quy định giá cả của hàng hoá một cách trực tiếp hay gián tiếp hoặc không quy định cách xác định giá thì các bên

được coi như đã “ngụ ý” (impliedly) áp dụng giá chung của hàng hoá đó được bán trong hoàn cảnh tương tự tại thời điểm giao kết hợp đồng. Nội dung quy định tại Điều 55 có vẻ mâu thuẫn với khoản 1 Điều 14 và khoản 3 Điều 19 của Công ước. Trong đó khoản 1 Điều 14 quy định một đề nghị giao kết hợp đồng được coi là đủ chính xác khi nó nêu rõ ràng hàng hoá, ấn định số lượng và giá cả một cách trực tiếp hay gián tiếp hoặc quy định cách xác định số lượng và giá cả; Đồng thời, khoản 3 Điều 19 quy định điều khoản về giá cả của hàng hoá được coi là điều khoản cơ bản của hợp đồng, theo đó yêu cầu sửa đổi, bổ sung điều khoản về giá của hàng hoá được coi là làm thay đổi nội dung cơ bản của hợp đồng. Như vậy, có thể nói sự không đồng nhất trong quy định của Điều 55 so với khoản 1 Điều 14 và khoản 3 Điều 19 trong Công ước càng thể hiện sự mềm dẻo của quy định này. Bởi vì trong trường hợp hợp đồng không phù hợp với khoản 1 Điều 14 và khoản 3 Điều 19 thì Điều 55 sẽ được áp dụng để xác định tính hợp pháp của hợp đồng. Với quy định này, mặc dù thiếu điều khoản về giá nhưng hợp đồng vẫn được xác định là tồn tại và giao dịch từ hợp đồng này cũng sẽ được công nhận nếu có cơ sở để xác định là các bên đã “ngụ ý” (impliedly) áp dụng giá.

Điều 11 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế không cần phải kí kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ bất cứ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng: “Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả bằng lời khai của nhân chứng”. Phù hợp với nội dung của Điều 11 trên đây, để tạo ra điều kiện pháp lí cho chào hàng và chấp nhận chào hàng có hiệu lực về mặt hình thức, Điều 24 Công ước quy định một chào hàng, một thông báo chấp nhận chào hàng hoặc bất cứ sự thể hiện ý chí nào khác trong giao kết hợp đồng được coi là đến tay bên nhận khi nó được thông tin bằng lời nói với bên nhận hoặc được giao đến tay bên nhận dưới “bất cứ phương tiện gì” (any other means) đến trụ sở kinh doanh của bên nhận hoặc nếu không có trụ sở kinh doanh thì đến địa chỉ thư tín hoặc nơi thường trú của bên nhận.(4) Việc quy định hình thức của hợp đồng được coi là hợp pháp ở dưới bất cứ dạng vật chất nào là rất mềm dẻo vì nó đã không hạn chế sự tham gia giao kết hợp đồng của các thương nhân đến từ các nước mà pháp luật quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được thể hiện dưới hình thức văn bản.

2.  Quá trình thực hiện hợp đồng

Thực chất của quá trình thực hiện hợp đồng chính là việc bên mua và bên bán phải thực hiện nghĩa vụ mua bán của mình được ghi nhận trong hợp đồng. Quy định về nghĩa vụ của các bên được Công ước quy định cũng khá mềm dẻo trong một số điều khoản.

Điều 33 Công ước quy định bên bán phải giao hàng theo đúng ngày giao hàng được ấn định cụ thể hoặc có thể xác định được từ các quy định của hợp đồng;(5) hoặc phải giao hàng vào bất kì thời điểm nào trong khoảng thời gian được quy định cụ thể hoặc có thể xác định từ các quy định của hợp đồng.(6) Tuy nhiên, nếu giao hàng không trong các trường hợp trên đây thì thời gian giao hàng sẽ là “thời gian hợp lí” (reasonable time) sau khi hợp đồng đã được giao kết.(7) Thế nào là “thời gian hợp lí” trong quy định này thì lại hoàn toàn phụ thuộc vào từng trường hợp và hoàn cảnh cụ thể để xác định nghĩa vụ giao hàng đúng thời gian của bên bán.

Điều 35 Công ước quy định về sự phù hợp của hàng hoá đối với quy định của hợp đồng. Theo đó, hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà hàng hoá cùng loại vẫn thường đáp ứng;(8) hoặc không thích hợp cho bất kì mục đích cụ thể nào mà bên bán đã biết một cách rõ ràng hay tự hiểu vào lúc giao kết hợp đồng, trừ trường hợp hoàn cảnh cụ thể chỉ ra rằng bên mua đã không dựa vào hoặc không hợp lí để dựa vào “kĩ năng và suy xét của bên bán” (Seller’s skill and judgement).(9) Như vậy, trong trường hợp này, quy định của khoản 2b Điều 35 là khá mền dẻo, theo đó sự thích hợp hay không thích hợp của hàng hoá lại hoàn toàn phụ thuộc vào “kĩ năng và suy xét của bên bán” đối với hàng hoá.

Khoản 1 Điều 38 quy định nghĩa vụ kiểm tra hàng của bên mua, theo đó bên mua phải kiểm tra hàng hoá hoặc đảm bảo là hàng hoá được kiểm tra với khoảng “thời gian ngắn” mà có thể thực hiện được trên thực tế trong hoàn cảnh cụ thể. Quy định về “thời gian ngắn” trong khoản 1 Điều 38 này mềm dẻo đến độ khó xác định được thời gian ngắn là bao lâu vì thời gian này không có tiêu chí xác định mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

Khoản 1 Điều 39 quy định trường hợp bên mua mất quyền khiếu nại đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng. Theo đó, để không bị mất quyền khiếu nại, bên mua phải thông báo cụ thể cho bên bán biết việc không phù hợp của hàng hoá trong “thời gian hợp lí” (reasonable time) kể từ khi phát hiện ra hoặc “đáng lẽ phải phát hiện ra” sự không phù hợp đó. Quy định về thời gian hợp lí trong trường hợp này cũng mềm dẻo bởi vì nó được xác định từ khi bên mua phát hiện ra sự không phù hợp của hàng hoá và đặc biệt là từ khi đáng lẽ bên mua phải phát hiện ra sự không phù hợp của hàng hoá. “Thời gian hợp lí” và “đáng lẽ phải phát hiện ra” trong quy định này mang tính ước lệ khá cao.

Khoản a Điều 60 quy định nghĩa vụ nhận hàng của bên mua. Theo đó bên mua phải thực hiện mọi hành vi mà bên bán có quyền “chờ đợi một cách hợp lí” để bên bán có thể thực hiện được việc giao hàng. Nội dung của quy định này thật mềm dẻo, bởi vì thế nào là hành vi của bên mua phù hợp với sự “chờ đợi một cách hợp lí” của bên bán thì hoàn toàn phụ thuộc vào sự xác định của bên mua hoặc bên bán, hơn nữa các tiêu chí để xác định này lại không được quy định một cách cụ thể.

Điều 86 quy định việc bảo quản hàng hoá. Theo quy định này, trong trường hợp bên mua đã nhận hàng và có ý định sử dụng quyền từ chối hàng hoá phù hợp với quy định của hợp đồng hoặc quy định của Công ước thì bên mua phải thực hiện các “biện pháp hợp lí” để bảo quản hàng hoá trong hoàn cảnh cụ thể. Bên mua có quyền giữ hàng hoá cho tới khi bên bán hoàn trả cho họ các “chi phí hợp lí”. Các từ ngữ được dùng trong quy định này như “biện pháp hợp lí”, “chi phí hợp lí” sẽ được xác định như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào các bên mua và bên bán.(10)

Về trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo quản hàng hoá, Điều 88 quy định bên nào có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo quản hàng hoá theo Điều 85 hoặc Điều 86 thì có thể bán hàng hoá bằng “cách thích hợp” nếu bên kia “chậm trễ một cách phi lí” trong việc tiếp quản hàng hoá hay lấy lại hàng hoặc trong việc thanh toán tiền hàng hay các chi phí bảo quản, với điều kiện phải thông báo ý định đó cho bên kia một cách hợp lí. Việc xác định tính hợp pháp đối với việc bán hàng của bên quản lí hàng, trong trường hợp này cũng rất mềm dẻo. Bởi vì việc xác định này không dựa trên tiêu chí cụ thể mà chỉ dựa vào “cách thức  bán hàng thích  hợp” của bên quản lí hàng vì sự “chậm trễ một cách phi lí” của bên kia trong việc tiếp quản hàng hoá.(11)

3.  Quy định về chế tài khi một bên vi phạm hợp đồng

Quy định về chế tài áp dụng đối với một bên vi phạm hợp đồng là những quy định quan trọng của Công ước. Bởi vì các quy định về chế tài đảm bảo cho hợp đồng được thực hiện một cách thực sự nhằm bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm. Suy diễn một cách thông thường thì để cho các quy định của hợp đồng được thực hiện một cách nghiêm chỉnh thì nội dung các quy định về chế tài phải thật khắt khe và chặt chẽ. Tuy nhiên, những quy định về chế tài được quy định trong Công ước không hoàn toàn cứng nhắc. Những quy định về chế tài thể hiện tính mềm dẻo khi nó được áp dụng đối với bên vi phạm.

Khoản 2 Điều 46 quy định trong trường hợp nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng thì bên mua có thể yêu cầu bên bán giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp của hàng hoá không tạo nên sự vi phạm hợp đồng một cách cơ bản và yêu cầu về việc thay thế hàng hoá phải đưa ra cùng với việc thông báo theo quy định của Điều 39 hoặc trong “thời gian hợp lí sau đó”.(12) Khoản 3 Điều 46 quy định bên mua cũng có quyền buộc bên bán khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá so với hợp đồng bằng cách đưa ra yêu cầu cùng với thông báo phù hợp với Điều 39 hoặc trong “thời gian hợp lí  sau đó”.  Như vậy, “thời gian hợp lí sau đó” được thể hiện trong quy định này không bị quy định một cách cứng nhắc mà nó được bên mua xác định trên cơ sở hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

Điều 47 quy định trong trường hợp bên bán vi phạm nghĩa vụ thì bên mua có thể cho bên bán thêm một “thời hạn bổ sung hợp lí” để bên bán thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình. Nội dung của Điều 47 thể hiện khá rõ bản chất mềm mỏng trong quan hệ thương mại quốc tế giữa bên mua và bên bán. Bởi vì, về mặt pháp lí, bên bán không giao hàng theo đúng thời gian được quy định trong hợp đồng thì đã vi phạm hợp đồng rồi. Theo đó, bên mua có thể thực hiện những hành vi pháp lí để bảo vệ quyền lợi của mình với tư cách là bên bị vi phạm. Tuy nhiên, trong trường hợp này, bên mua vẫn có thể cho phép bên bán thực hiện nghĩa vụ hợp đồng của mình trong một thời gian bổ sung nữa. Thời gian này được gọi là “thời gian bổ sung hợp lí” (additional period of time of reasonable length). Thời gian “bổ sung” này là bao lâu thì được coi là “hợp lí” hoàn toàn phụ thuộc vào sự gia hạn của bên mua.

Nếu như Điều 47 trên đây cho phép bên mua gia hạn thời gian bổ sung để bên bán thực hiện hợp đồng thì Điều 63 quy định bên bán có thể chấp nhận cho bên mua một “thời hạn bổ sung hợp lí” để khắc phục sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của bên mua. Như vậy, nội dung này không chỉ thể hiện sự công bằng giữa bên mua và bán khi một trong các bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà còn thể hiện tính mềm dẻo của quy định trong việc áp dụng chế tài.

Điều 74 quy định việc bồi thường thiệt hại. Theo đó bên vi phạm hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên bị hại bao gồm tổn thất hàng hoá và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên bị vi phạm phải gánh chịu. Tiền bồi thường thiệt hại này không được cao hơn tổn thất mà bên bị vi phạm “đã dự liệu” hoặc “đáng lẽ phải dự liệu được” vào lúc giao kết hợp đồng, có tính đến các tình tiết và yếu tố mà bên bị vị phạm “phải biết” hoặc “đáng lẽ phải biết”. Các từ ngữ dùng trong quy định này như “dự liệu” hoặc “đáng lẽ phải dự liệu được” hoặc “phải biết” hoặc “đáng lẽ phải biết” đã làm cho quy định của Điều 74 thật sự mềm dẻo khi áp dụng.

Điều 75 quy định nếu hợp đồng bị huỷ, bằng cách hợp lí hoặc trong thời hạn hợp lí sau khi huỷ hợp đồng, bên mua đã mua hàng thay thế hoặc bên bán đã bán lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá trị hợp đồng và giá trị giá mua hàng thay thế hay bán lại. Trong quy định này, thế nào là “cách thức hợp lí” (reasonable manner) và thế nào là “thời gian hợp lí” (reasonable time) sẽ do các bên tự xác định trên cơ sở có tính đến các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể.

Với nội dung của một số điều khoản trong Công ước được đề cập ở trên, có thể rút ra một số nhận xét như sau:

Một nội dung của một số điều khoản của Công ước đã tạo ra môi trường pháp lí thông thoáng cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế. Tạo ra môi trường pháp lí cho việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hết sức cần thiết nhưng điều không kém phần quan trọng là môi trường pháp lí này phải thông thoáng để phù hợp với bản chất của các giao dịch trong thương mại quốc tế. Nội dung của các điều khoản được đề cập trong bài viết đã thể hiện một phần sự thông thoáng của môi trường pháp lí này. Theo đó các thương nhân có thể tự điều chỉnh một cách chi tiết những thoả thuận của mình trên cơ sở những quy định có tính chất khung trong Công ước.

Hai là Công ước thể hiện sự tôn trọng cao nhất quyền tự do hợp đồng trong thương mại quốc tế của các thương nhân. Nội dung các điều khoản của Công ước được đề cập trong bài viết này đã cho thấy các bên tham gia hợp đồng được tự do xác định nghĩa vụ và trách nhiệm của mình thông qua các từ ngữ khá mềm dẻo như: “Cách thức hợp lí”, “thời gian hợp lí”, “chi phí hợp lí”, “ngụ ý của các bên”… Quyền tự do này của các bên còn được thể hiện ở ngay trong các quy định tưởng chừng cần phải khắt khe và chặt chẽ như các quy định về chế tài.

Ba là nhiều điều khoản của Công ước phù hợp với điều kiện pháp lí của hầu hết các thương nhân trên thế giới khi tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Do quy định pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới khác nhau nên ở một mức độ nào đó, đã tạo ra rào cản đối với các thương nhân trong việc giao kết và thực hiện hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên, với những quy định của Công ước được đề cập trong bài viết này đã cho thấy tính mềm dẻo của Công ước. Sự mềm dẻo của Công ước đã tạo nên hành lang pháp lí cần thiết để các thương gia đến từ các nước có đặc điểm về kinh tế, xã hội và pháp luật khác nhau thậm chí trái ngược nhau có thể giao kết và thực hiện hợp đồng thương mại quốc tế một cách thuận lợi.

Tóm lại, Công ước Viên là điều ước quốc tế quan trọng điều chỉnh những vấn đề pháp lí cơ bản đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thu hút được sự tham gia ngày càng đông đảo của các quốc gia thành viên. Sự hấp dẫn của Công ước không chỉ là do Công ước đã tạo nên hành lang pháp lí thuận lợi mà còn do Công ước bao gồm các quy định mang tính mềm dẻo, dễ vận dụng đối với các giao dịch thương mại quốc tế vốn rất đa dạng, phong phú nhưng chịu sự điều chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật khác nhau. Tính mềm dẻo của Công ước được thể hiện qua từ ngữ dùng trong một số quy định và cách thức xác định nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của bên mua và bên bán. Những nội dung này được phân bổ tương đối đồng đều từ giai đoạn giao kết hợp đồng, thực hiện hợp đồng và áp dụng chế tài khi một bên vi phạm hợp đồng. Sự hấp dẫn của Công ước đã đáp ứng được một phần kì vọng của các quốc gia khi tham gia kí kết Công ước này, được thể hiện trong phần mở đầu của Công ước đó là: “Thông qua các quy tắc thống nhất điều chỉnh các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và tính đến các hệ thống xã hội, kinh tế và pháp luật khác nhau sẽ đóng góp vào việc dỡ bỏ những trở ngại pháp lí trong thương mại quốc tế và thúc đẩy

sự phát triển của thương mại quốc tế”(13)./.

(3).Xem: Khoản 3 Điều 19.(1).Xem: Khoản 1Điều 19. (2).Xem: Khoản 2 Điều 19.

(4).Xem: Điều 24. (5).Xem: Khoản a Điều 33. (6).Xem: Khoản b Điều 33. (7).Xem: Khoản c Điều 33.

(8).Xem: Khoản 2a Điều 35. (9).Xem: Khoản 2b Điều 35. (10).Xem: Khoản 1 Điều 86.

(11).Xem: Khoản 1 Điều 88.

(12).Xem: Khoản 2 Điều 46. (13).Xem: Phần mở đầu của Công ước.

TS. Nông Quốc Bình

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 13, 2016 in Khác

 

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 84 của CISG

Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 84 của CISG

Ngày 18/12/2015 vừa qua, Việt Nam đã chính thức phê duyệt việc gia nhập Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của Liên hợp quốc (“CISG”) để trở thành viên thứ 84 của Công ước này. Điều đáng chú ý là Việt Nam đã đi trước nhiều nước ASEAN khác để trở thành thành viên thứ 2 sau Singapore gia nhập Công ước quan trọng này. Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực ràng buộc tại Việt Nam từ ngày 1/1/2017.

Công ước Viên về Hợp đồng Mua bán Hàng hoá Quốc tế của Liên hợp quốc được thông qua năm 1980, là một mô hình hữu ích cho các nước đang nổi lên đang xem xét việc ban hành luật hợp đồng và mua bán hiện đại. Công ước này áp dụng đối với các hợp đồng mua bán giữa người mua và người bán có trụ sở thương mại tại các nước là thành viên của Công ước, song Công ước có sự nhất quán trong việc nhấn mạnh yếu tố tự do của hợp đồng, theo đó các bên có quyền quy định các điều khoản cụ thể theo thỏa thuận.

Việc gia nhập CISG đã đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về mua bán hàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệp việt nam một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Đối với Nhóm CISGVN nói riêng, đây là một sự kiện được chờ đợi từ rất lâu, là một thành công lớn của nhóm trong nỗ lực thúc đẩy Việt Nam gia nhập CISG và tạo đà cho những hoạt động tiếp theo của Nhóm như phổ biến, tuyền truyền rộng rãi việc áp dụng CISG đến các doanh nghiệp, luật sư, trọng tài viên, thẩm phán…

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 31, 2015 in Khác

 

Quyết định của Chủ tịch nước về việc Việt Nam gia nhập CISG

Quyet dinh CTN ve VN gia nhap CISG

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Mười Hai 10, 2015 in A - Thông báo chung

 

NHẬT BẢN GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN VÀ MỘT SỐ SUY NGHĨ ĐỐI VỚI VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM

NHẬT BẢN GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN VÀ MỘT SỐ SUY NGHĨ
ĐỐI VỚI VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM
TS. Nguyễn Minh Hằng
Bộ môn Luật – ĐH Ngoại Thương
1.    Công ước Viên và sự ảnh hưởng của Công ước ở Châu Á
Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi là Công ước Viên)  được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Công ước này đã trở thành Công ước được áp dụng rộng rãi nhất trong số các điều ước quốc tế đa phương về mua bán hàng hoá quốc tế. Cho đến thời điểm hiện nay, với 74 quốc gia là thành viên , ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến hơn ba phần tư thương mại hàng hóa thế giới . Trong số 74 quốc gia thành viên của Công ước này, có sự góp mặt của các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển nằm trên mọi châu lục. Thực tiễn áp dụng Công ước Viên cho thấy Công ước này cung cấp một khung pháp lý thống nhất, hiện đại về mua bán hàng hóa quốc tế, có thể được áp dụng tại mọi quốc gia không phân biệt truyền thống pháp luật hay trình độ phát triển kinh tế của quốc gia đó.
Từ khi Công ước có hiệu lực (ngày 01/01/1988), Công ước đã chứng tỏ vai trò quan trọng của nó trong việc góp phần giải quyết các xung đột pháp luật trong kinh doanh quốc tế. Điều này được thể hiện qua rất nhiều bản án, phán quyết của Toà án và Trọng tài trên khắp thế giới. Tính đến thời điểm hiện nay, tổng số các bản án, phán quyết có liên quan đến Công ước đã lên tới hơn 2000 .
Cho đến thời điểm hiện tại, đã có 12 quốc gia Châu Á là thành viên của Công ước . Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên của Châu Á tham gia vào Công ước Viên. Tiếp theo đó là Singapo (năm 1996), Hàn Quốc (năm 2005) và năm 2008, Nhật Bản đã phê chuẩn Công ước. Như vậy, bốn nền kinh tế mạnh nhất của Châu Á đã tham gia Công ước này.
Câu hỏi đặt ra là Công ước đã được áp dụng như thế nào tại các quốc gia Châu Á? Lấy Trung Quốc làm nghiên cứu điển hình, có thể thấy, từ hai thập kỷ (từ năm 1988 khi Công ước bắt đầu có hiệu lực đến hết năm 2008), Công ước Viên đã được áp dụng rất rộng rãi tại Trung Quốc . Nhiều phán quyết của trọng tài Trung Quốc, chủ yếu là của CIETAC (China International Economic and Trade Arbitration Commission) có liên quan đến Công ước Viên đã được tập hợp. Con số này là khoảng 300 phán quyết . Trong các phán quyết này, có thể thấy rõ vai trò của Công ước trong việc điều chỉnh các vấn đề mà pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung Quốc còn bất cập hoặc chưa điều chỉnh, nhờ đó những tranh chấp trong lĩnh vực ngoại thương được giải quyết nhanh chóng và hợp lý.
Theo nhận định của các nhà phân tích thì Công ước Viên đã phát huy vai trò rất tích cực để thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Trung Quốc. Vai trò này được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn những năm 90 của thế kỷ trước, thời kỳ phát triển mạnh mẽ hoạt động ngoại thương của Trung Quốc . Một mặt, các nhà kinh doanh Trung Quốc có một nguồn luật đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới để áp dụng vào hợp đồng ký với đối tác nước ngoài. Mặt khác, các đối tác nước ngoài cũng tin tưởng và yên tâm hơn khi làm ăn với các doanh nghiệp Trung Quốc vì Công ước này đã được chấp nhận ở Trung Quốc. Số lượng các hợp đồng trong đó các bên lựa chọn Công ước Viên là luật áp dụng ngày càng gia tăng .
Vai trò của Công ước ở Trung Quốc còn thể hiện ở việc, nhiều điều khoản trong Luật Hợp đồng Trung Quốc ngày 15/03/1999 được tham khảo từ Công ước này. Các nhà lập pháp Trung Quốc đã chuyển hóa các nguyên tắc chung và một số quy định cụ thể của Công ước Viên vào pháp luật hợp đồng của mình, trước hết vì đó là những nguyên tắc và quy định được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới.
2.    Nhật Bản gia nhập Công ước Viên và dự báo về tương lai của Công ước tại Châu Á
Nhật Bản đã phê chuẩn Công ước Viên ngày 01/07/2008 và Công ước này sẽ bắt đầu có hiệu lực tại đất nước mặt trời mọc từ ngày 01/08/2009.
Lý do để Nhật Bản gia nhập Công ước Viên là nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ thương mại về hàng hoá Nhật Bản và các quốc gia thành viên Công ước. Việc cùng trở thành thành viên của Công ước giúp các quốc gia xích lại gần nhau hơn trong quan hệ mua bán, giúp cho việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được nhanh chóng và thuận lợi hơn. Đặc biệt, với việc gia nhập Công ước này, Nhật Bản mong muốn tạo khung pháp lý thuận lợi đẩy mạnh hoạt động thương mại song phương giữa Nhật Bản và Trung Quốc .
Việc Nhật Bản trở thành thành viên Công ước Viên có ảnh hưởng gì đến những hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp Nhật Bản hay không? Khi Việt Nam chưa gia nhập Công ước này thì câu trả lời có vẻ như là không. Thực tế lại hoàn toàn không phải như vậy. Điều 1.1.b của Công ước quy định: “Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau… khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước”. Theo trường hợp này, Công ước Viên sẽ có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết giữa một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia là thành viên và một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia chưa phải là thành viên công ước. Ví dụ, một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa người mua Việt Nam và người bán Nhật Bản (trong đó hai bên không lựa chọn luật áp dụng) sẽ được điều chỉnh bởi Công ước Viên nếu các quy phạm xung đột dẫn chiếu tới luật Nhật Bản, mặc dù Việt Nam chưa là thành viên của Công ước . Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu và phổ biến kiến thức về Công ước Viên ngay cả khi Việt Nam chưa phải là quốc gia thành viên. Đây cũng là điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý nhằm tránh bị động khi Công ước được áp dụng vào hợp đồng mà mình ký với các thương nhân có trụ sở thương mại ở các quốc gia thành viên của Công ước .
Các chuyên gia dự báo việc nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ước Viên đánh dấu một bước thành công mới của Công ước tại Châu Á. Sự ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia Châu Á .
3.    Kiến nghị: Việt Nam cần gia nhập Công ước Viên trong thời gian sớm nhất
Việt Nam đang trên con đường hội nhập một cách chủ động và tích cực vào nền kinh tế thế giới, đẩy mạnh các quan hệ hợp tác song phương và đa phương. Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO được hơn 2 năm và đã thực sự tham gia vào “luật chơi chung” trong khuôn khổ của tổ chức này. Các Hiệp định của WTO đóng vai trò quan trọng để phát triển hoạt động thương mại giữa Việt Nam và các nước khác. Tuy vậy, các Hiệp định này chỉ đưa ra các nguyên tắc và quy định mang tính chất nguyên tắc điều chỉnh hoạt động thương mại quốc tế. Khi tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế cụ thể như mua bán hàng hóa, các thương nhân cũng cần có “luật chơi chung” nhằm giảm thiểu các rào cản về mặt pháp lý do các xung đột pháp luật tạo nên.
Đã đến lúc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quan tâm đến việc tham gia vào các điều ước quốc tế chuyên ngành trong những lĩnh vực cụ thể, trong đó lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế cần phải được chú trọng. Lý do là vì cho đến thời điểm hiện tại, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa vẫn là hoạt động chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, việc gia nhập Công ước Viên là hết sức cần thiết và có ý nghĩa to lớn để phát triển các hoạt động ngoại thương nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá (xuất nhập khẩu) nói riêng của Việt Nam; là cách thức hữu hiệu để giải quyết những xung đột pháp luật với các nước khác và giải quyết tranh chấp dễ dàng hơn.
Như đã phân tích ở trên, sự ảnh hưởng và tầm quan trọng của Công ước Viên tại Châu Á đã được khẳng định và sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Việt Nam không nên và không thể đứng ngoài những “luật chơi chung” đã được nhiều quốc gia Châu Á áp dụng. Việt Nam cần nhanh chóng, chủ động có các hành động cụ thể tiến tới gia nhập Công ước Viên trong thời gian sớm nhất (chậm nhất là cuối năm 2009) để nhanh chóng tận dụng được những lợi ích mà văn bản thống nhất luật này đem lại . Lợi ích khi gia nhập Công ước này là rất lớn, đối với các doanh nghiệp Việt Nam cũng như đối với nền kinh tế Việt Nam . Lợi ích này trước hết là phát triển mối quan hệ mua bán hàng hóa với các quốc gia Châu Á là bạn hàng lớn của Việt Nam như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc. Sau đó là những lợi ích lớn hơn có được khi phát triển mối quan hệ thương mại với các quốc gia thành viên khác ở mọi châu lục.

Tài liệu tham khảo
1.    Claude Witz, L’essor de la Convention de Vienne en Asie (Sự ảnh hưởng của Công ước Viên tại Châu Á), Recueil Dalloz, 2009, tr.280
2.    International Trade Centre (UNCTAD/WTO) & Ministry of Trade of Vietnam, Report on key multilateral treaties affecting trade not ratified by Vietnam- A cost/benefit analysis, March 2007 (tài liệu hội thảo)
3.    www.cisg.law.pace.edu
4.    www.uncitral.org

 

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Ba 14, 2012 in Nghiên cứu về CISG

 

Thực tiễn áp dụng Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG)

Hiện nay, sự tồn tại của CISG được giới luật sư trong lĩnh vực thương mại quốc tế biết đến khá rộng rãi. Tuy nhiên, khuynh hướng loại trừ không áp dụng Công ước này đặc biệt trong thương mại hàng hóa vẫn tồn tại. Có ba lý do thường được đưa ra để giải thích cho khuynh hướng này. Thứ nhất, mặc dù CISG được biết đến khá rộng rãi thì mức độ am hiểu về việc áp dụng và chức năng của Công ước trên thực tế vẫn rất thấp. Các luật sư vẫn ưa chuộng luật trong nước của họ hơn theo thói quen. Thứ hai, bất cứ khi nào một bên trong hợp đồng có ưu thế cho phép thì bên đó thường thích sử dụng luật của nước mình hơn áp dụng cho hợp đồng. Thứ ba, các bên vẫn chưa bị thuyết phục về lợi ích của CISG so với các luật trong nước về hợp đồng. Tuy nhiên, những lập luận này không có tính thuyết phục vì một số lí do sau đây

Mặc dù hiện nay tại các nước phương tây và các nước công nghiệp hóa, các bên được tự do để chọn luật áp dụng cho hợp đồng của họ thì điều này lại không đúng ở phần còn lại của thế giới. Nhiều nước đang phát triển và các nước chuyển đổi e ngại dành cho các thương nhân phương tây quá nhiều lợi thế dẫn đến việc từ chối công nhận các điều khoản chọn luật. Ví dụ ở Brazil, giá trị pháp lý của các điều khoản chọn luật được bàn cãi nhiều hơn hết. Do đó, người mua từ Hoa Kỳ nhận hàng hóa từ người bán Brazil và tự tin giao kết trên cơ sở Luật Thương mại mẫu của Hoa Kỳ có thể bị rơi vào tình trạng rất rủi ro khi cố gắng kiện người bán ở các tòa án Brazil nơi áp dụng luật Brazil đối với hợp đồng mua bán. Điều này dễ dẫn tới tình trạng một bên phải đương đầu với một luật khó có khả năng dự đoán và thậm chí khó hiểu hoặc tiếp cận.

Bên cạnh đó, nếu điều khoản chọn luật được thừa nhận thì việc một bên yêu cầu áp dụng luật của nước mình có thể vẫn gặp phải những trở ngại đáng kể khi kiện ra tòa án của một nước khác. Đầu tiên, luật được chọn phải được chứng minh tại tòa. Điều này bao hàm việc dịch các đạo luật và các văn bản pháp lý khác như các quyết định của tòa án, các bài nghiên cứu sang ngôn ngữ của tòa. Đồng thời việc yêu cầu tư vấn chuyên gia cũng rất cần thiết. Ở một số nước các chuyên gia có thể do tòa chỉ định, trong khi ở nhiều nước khác một bên phải tự đề cử chuyên gia của mình. Chúng ta đều biết rằng tất cả những việc này đều rất tốn kém. Thậm chí nếu một bên có ý thức chịu mọi chi phí để chứng minh luật nước mình tại tòa, họ vẫn sẽ phải đối mặt với sự khó dự đoán liên quan đến việc giải thích và áp dụng luật này bởi tòa án nước ngoài và đôi khi là sự sai lệch hoàn toàn. Tất nhiên càng ngày càng có nhiều tranh chấp về luật mua bán hàng hóa quốc tế không bị kiện ra các tòa án quốc gia mà thường được giải quyết bởi trọng tài thương mại quốc tế. Vấn đề chứng minh luật trong nước và bản dịch của nó vẫn cần thiết khi luật này không thể tiếp cận được bằng tiếng Anh. Trong hoàn cảnh này, làm thế nào để các trọng tài – những người đến từ các hệ thống pháp luật khác nhau có thể áp dụng luật của một nước khác.

Trong nhiều trường hợp, các bên cố gắng giải quyết các vấn đề trên bằng việc viện dẫn đến luật mà họ tin là “luật trung lập” mặc dù họ thường nhầm lẫn giữa sự trung lập chính trị với sự phù hợp của luật được chọn cho các giao dịch quốc tế. Điều này đúng cho trường hợp luật Thụy Sỹ. Nếu các bên chọn một luật (trung lập) của nước thứ ba, họ thậm chí có thể rơi vào hoàn cảnh xấu hơn là chọn luật của chính một trong các bên. Đầu tiên, họ phải tìm hiểu về luật nước ngoài này. Hơn nữa, khó khăn và chi phí trong việc chứng minh nó thậm chí còn nặng nề hơn. Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng, là luật mua bán trong nước của Thụy Sỹ có thể khó dự đoán và không phù hợp với các hợp đồng quốc tế ở một số điểm cốt lõi. Tất cả những thiếu sót của luật trong nước nói trên có thể tránh được bằng việc áp dụng CISG. Văn bản của CISG không chỉ có sẵn bằng 6 ngôn ngữ chính thức mà còn được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác. Các quyết định của tòa, phán quyết trọng tài cũng như các bài nghiên cứu cũng được viết hoặc dịch ra tiếng Anh. Chúng có thể được tiếp cận dễ dàng không chỉ qua sách báo mà còn trên các trang web. Một số lượng lớn các tài liệu pháp lý sẵn có là cơ sở để chúng ta tin rằng các thẩm phán và trọng tài có thể tiếp cận được  thông tin cần thiết và áp dụng CISG dưới hình thức có thể dự đoán được.

Tóm lại, việc tiếp cận CISG tốt hơn sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí, và kết quả của các vụ kiện cũng dễ dự đoán hơn. Điều này là lợi thế cơ bản của CISG khi so sánh với việc áp dụng luật trong nước.

Theo Tạp chí Luật So sánh Hoa Kỳ (nguồn:  MOIT)

 
Để lại bình luận

Posted by on Tháng Một 19, 2012 in Khác

 

Điều tra về Công ước Viên 1980

Điều tra này được thực hiện bởi Trung tâm nghiên cứu về Pháp luật TMQT (ĐH Ngoại Thương) và Hãng luật EP Legal để có cơ sở thực tế phân tích rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp về vấn đề luật áp dụng và lợi ích của doanh nghiệp trong việc áp dụng Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980 hay CISG), từ đó đưa ra kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc Việt Nam tham gia Công ước này. Mọi thông tin liên quan đến phiếu điều tra này sẽ được giữ bí mật và sẽ chỉ được sử dụng cho mục đích khoa học.

Vui lòng truy cập spreadsheets.google.com hoặc cisgvn.co.cc để tham gia điều tra. Điều tra này chỉ mất 2 phút để thực hiện. Vì vậy chúng tôi rất mong nhận được sự tham gia nhiệt tình của các doanh nghiệp, nhà nghiên cứu và nhà thực hành luật có hoạt động liên quan đến mua bán hàng hóa quốc tế. Read the rest of this entry »

 
 
 
Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 37 other followers