Doanh nghiệp và chuyên gia Việt Nam với Công ước Viên

Với những lợi ích đáng kể về kinh tế cũng như pháp lý mà Công ước Viên hứa hẹn có thể mang lại cho các doanh nghiệp cũng như hệ thống pháp luật của các nước thành viên nói chung và của Việt Nam nói riêng, không có gì ngạc nhiên khi việc xem xét gia nhập Công ước này thu hút được sự quan tâm lớn từ phía cộng đồng doanh nghiệp cũng như các chuyên gia ở Việt Nam.

1. Các chuyên gia vi Công ước Viên 1980

Trong quá khứ, ngay tại thời điểm Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực (năm 1989), ở Việt Nam đã bắt đầu có những nghiên cứu về các lợi ích của Công ước này và sự tham gia của Việt Nam.

Từ góc độ các cơ quan quản lý Nhà nước, cần phải kể đến nghiên cứu của TS Đinh Thị Mỹ Loan và các cán bộ nghiên cứu thuộc Vụ Pháp chế Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công Thương) về vấn đề này. Nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích nổi trội mà Công ước có thể mang lại cho hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này. Từ đó, nghiên cứu đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nhanh chóng tham gia Công ước này. Tiếc rằng sau đó, trong bối cảnh đổi mới kinh tế khó khăn, phức tạp, Chính phủ đã không dành ưu tiên cho công việc này.

Gần đây hơn, năm 2007, trong khuôn khổ Dự án “Nâng cp H thng pháp lý thương mi đa phương ca Vit Nam” do Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) tiến hành với sự hỗ trợ của Ủy ban châu Âu (EC), Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), phối hợp với các Bộ ngành liên quan (Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tổng Cục Hải quan, Đoàn Luật sư Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội và Đại học Ngoại thương), nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát khoảng 200 Điều ước thương mại quốc tế quan trọng trên thế giới và đánh giá khả năng Việt Nam tham gia các Công ước này. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng những nước có mức độ gia nhập các Điều ước quốc tế đa phương về thương mại cao cũng đồng thời là những nước có thành tích xuất khẩu ấn tượng (và ngược lại, các nước xuất khẩu tương đối ít hoặc rất ít có mức độ gia nhập các Điều ước này thấp hơn rõ rệt). Với tính chất là một nền kinh tế định hướng xuất khẩu, Việt Nam rõ ràng là cần phải cải thiện mức độ gia nhập các Điều ước loại này. Vì vậy, báo cáo kết quả nghiên cứu đã khuyến nghị Việt Nam nên tham gia 11 Điều ước được xem là mang tính chiến lược đối với nền kinh tế định hướng xuất khẩu như chúng ta. Công ước Viên 1980 đứng đầu trong danh mục 11 Điều ước “cần tham gia sớm” này. Theo nghiên cứu này, gia nhập Công ước Viên là một bước đi cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam hiện nay.

Từ góc độ các đơn vị nghiên cứu, nhiều chuyên gia cũng đã có những phân tích thấu đáo và đánh giá tích cực về tầm quan trọng và lợi ích của Công ước Viên 1980 đối với các doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Đáng kể nhất là các nghiên cứu của GS. TS Nguyễn Thị Mơ và các giảng viên của Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội năm 2005. Bên cạnh đó là nhiều bài viết phân tích và khuyến nghị Việt Nam gia nhập Công ước này xuất hiện rải rác trên nhiều tạp chí chuyên ngành kinh tế, pháp luật trong nước vài năm trở lại đây.

2. Cng đng doanh nghip vi Công ước Viên 1980

Từ phía cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, với những tiện ích và mức độ phổ quát của mình, Công ước Viên 1980 đã đi vào thực tiễn hoạt động mua bán ngoại thương của nhiều doanh nghiệp một cách rất tự nhiên dù doanh nghiệp nhận thức được hay không. Điều này cũng không có gì khó lý giải bởi trên thực tế nhiều nguyên tắc của Công ước Viên đã trở thành thông lệ chung và được áp dụng rộng rãi trong các giao dịch mua bán quốc tế, bao gồm cả các giao dịch mà các doanh nghiệp Việt Nam là một bên (đặc biệt khi bên kia của giao dịch là các doanh nghiệp đến từ các nước đã là thành viên của Công ước này – mà theo thống kê thì có tới 4 trong số 5 khu vực thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam là những khu vực đã gia nhập Công ước Viên.

Theo điều tra nhanh mới đây do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thực hiện (tháng 05/2010) đối với 10 Hiệp hội ngành hàng có hoạt động xuất nhập khẩu hoặc liên quan chặt chẽ đến xuất nhập khẩu lớn của Việt Nam và 03 Hiệp hội đa ngành hàng lớn nhất về sự cần thiết tham gia Công ước Viên và mức độ ủng hộ của các doanh nghiệp thuộc các ngành này, kết quả cho thấy 100% các ngành đều đánh giá cao những lợi ích của Công ước Viên 1980 đối với hoạt động của doanh nghiệp trong ngành và ủng hộ sáng kiến đề xuất Chính phủ nhanh chóng gia nhập Công ước này.

Stt Hip hi ngành hàng được kho sát
1 Hiệp hội Dệt may VN
2 Hiệp hội Thép Việt Nam
3 Tổng Hội Xây dựng Việt Nam
4 Hiệp hội ô tô xe máy
5 Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam
6 Hiệp hội Da giầy Việt Nam
7 Hiệp hội Gỗ và lâm sản Việt Nam
8 Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu Thủy sản Việt Nam
9 Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam
10 Hiệp hội Công nghiệp Kỹ thuật Điện Việt Nam
11 Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam
12 Liên minh HTX VN
13 Hiệp hội doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

Ngun: Điu tra các Hiêp hi xut khu ln ca Vit Nam v vic gia nhp Công ước Viên 1980 – VCCI 5/2010

Cần lưu ý là theo điều tra này bên cạnh những trường hợp có sự hiểu biết đầy đủ về Công ước Viên của nhiều hiệp hội ngành hàng, đối với một số hiệp hội khác, sự ủng hộ này được xây dựng chủ yếu dựa trên lòng tin của cộng đồng doanh nghiệp trong ngành với những lợi ích mà Công ước này có thể mang lại cho hoạt động kinh doanh của họ như cách mà họ đã thấy ở các đối tác của họ tại các nước đã là thành viên của Công ước Viên 1980. Thậm chí, có những ngành mà có tới 80-90% doanh nghiệp không biết gì về Công ước này nhưng lại bày tỏ sự ủng hộ tuyệt đối đối với việc gia nhập Công ước, thậm chí khẳng định với lợi ích sát sườn cho doanh nghiệp như vậy, Việt Nam cần gia nhập Công ước này càng sớm càng tốt. Đây là một điểm đặc biệt thú vị cho thấy sức hút của Công ước này không chỉ ở những lợi ích mà nó có thể mang lại cho những ai biết để sử dụng nó mà còn nằm ở khả năng làm “bệ đỡ pháp lý” cho các giao dịch của doanh nghiệp của Công ước ngay cả khi doanh nghiệp không biết về Công ước này.

“Chúng tôi rt ng h, rt hoan nghênh!” 

Vic vn đng tham gia bt kỳ Công ước/Hip đnh nào v thương mi cn có nhn thc đúng ca cng đng doanh nghip. Đi vi Công ước Viên 1980, điu này còn quan trng hơn na bi các doanh nghip mi là người trc tiếp s dng, chu tác đng cũng như hưởng li t Công ước này.

Có mt thc tế là Công ước Viên không phi là lut áp dng được s dng ph biến trong ngành g chúng tôi. Trong s 3000 doanh nghip g hin đang hot đng (trong đó có khong 300 doanh nghip có vn đu tư nước ngoài – FDI) thì may lm ch có khong 100 doanh nghip FDI biết v Công ước Viên và s dng h thng pháp lut hp đng này. Điu này có nghĩa là khong trên 90% s lượng các hp đng mua nguyên liu g (t 26 nước trên thế gii) và và các hp đng bán đ g thành phm (cho khong 120 nước trên thế gii) ca chúng tôi không biết đ s dng Công ước Viên.

Tht lãng phí khi tn ti mt Công ước vi nhiu li ích như Công ước Viên 1980 mà ngành g Vit Nam li không biết đến và do đó không tn dng được nhng li ích mà nhiu nước, nhiu ngành đã tn dng được trong sut my chc năm va qua.

Qua nghiên cu ca các chuyên gia v thc tin áp dng Công ước Viên chúng tôi thy Công ước này rt có li, có th mang li nhiu hiu qu cho hot đng mua bán ca chúng tôi. Mt s người có đ cp đến nhng ri rõ, nhng cái “by” ca Công ước này, tuy nhiên chúng tôi cho rng nhng ri ro y không đáng k, “by” nếu qu tht có cũng không phi là quá nhiu và nguy him so vi li ích thc tế mà Công ước này có th mang li.

Vì vy chúng tôi rt ng h, rt hoan nghênh vic Vit Nam gia nhp Công ước này. Nếu Chính ph có cn chúng tôi hành đng gì liên quan chúng tôi cũng xin sn sàng. Ngoài ra, chúng tôi xin đ ngh cn có chiến dch tuyên truyn qung bá v Công ước Viên trong cng đng, bao gm các doanh nghip và k cgii quan chc. Không ch các doanh nghip cn biết v Công ước này đ tn dng nó mà các quan chc cũng cn biết đ mau chóng đưa Vit Nam gia nhp Công ước này (bi vic này mt s quan chc đã biết nhiu năm nhưng chưa làm, chng t h chưa hiu hết, chưa hiu đy đ v Công ước và nhng li ích nó có th mang li)”.

Phát biểu tại Tọa đàm “Việt Nam và Công ước Viên 1980” – VCCI 5/2010

Ông Nguyn Tôn Quyn – Phó Ch tch Hip hi G và Lâm sn Vit Nam

3. Các lut sư và chuyên gia tư vn vi Công ước Viên 1980

Một điểm rất đặc thù khi xem xét Công ước này là dù đối tượng thụ hưởng các lợi ích từ Công ước là các doanh nghiệp, nhóm này lại không phải là đối tượng sử dụng trực tiếp Công ước. Thay vào đó, các chuyên gia, thẩm phán, các cố vấn pháp lý, luật sư của doanh nghiệp mới là những người trực tiếp sử dụng Công ước này với tư cách là người tư vấn về pháp lý cho việc soạn thảo, thực hiện cũng như giải quyết các tranh chấp các hợp đồng của các doanh nghiệp (trong đó có vấn đề lựa chọn luật áp dụng cũng như xử lý các tranh chấp liên quan đến luật áp dụng khi cần thiết). Đây là điều đã thấy ở một số nước trong quá trình vận động gia nhập Công ước Viên 1980 (ví dụ Hoa Kỳ, Nhật Bản, Braxin…). Cũng như vậy, ở Việt Nam, quan điểm của nhóm này về việc Việt Nam nên hay không nên gia nhập Công ước Viên có thể xem như một phản ánh chân thực, từ một góc độ khác, chuyên sâu và thực tế hơn, nhu cầu của các doanh nghiệp Việt Nam liên quan đến vấn đề này (bên cạnh quan điểm chung được phản ánh thông qua các hiệp hội ngành hàng, đại diện cho các doanh nghiệp từ góc độ chính sách vĩ mô liên quan đến cùng lĩnh vực).

Điều tra ý kiến của 50 luật sư, trọng tài viên, thẩm phán, chuyên gia pháp lý đến từ các công ty luật – văn phòng luật sư, trung tâm trọng tài, tòa án, các Trường đại học kinh tế – pháp luật, bộ phận pháp chế của các Tổng Công ty cũng như những số liệu thống kê từ Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), một đơn vị giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngoài Tòa án uy tín nhất tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện tại, cho thấy những kết quả thú vị về sự cần thiết của việc gia nhập Công ước Viên từ những góc độ rất thực tiễn.

Thứ nhất, là một “bệ đỡ pháp lý an toàn” cho các bên khi họ “quên” không lựa chọn luật áp dụng, Công ước Viên tỏ ra rất hữu dụng đối với trường hợp của Việt Nam khi mà theo số liệu từ VIAC thì trong tổng số gần 500 vụ tranh chấp được đưa ra trước Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam từ trước tới nay về mua bán hàng hóa quốc tế có tới trên 80% các vụ tranh chấp mà thỏa thuận giữa các bên không quy định luật áp dụng. Trong những trường hợp như vậy, các trọng tài đã phải rất vất vả để xác định luật áp dụng cụ thể trong những trường hợp đó là luật nào và phải hiểu ra sao. Trong khi đó, nếu Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên và với thực tế là hầu hết các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đều đã là thành viên Công ước này, những vấn đề này có thể được giải quyết nhanh chóng và công bằng thông qua việc áp dụng tự động Công ước Viên 1980.

Có lẽ những chi phí phải bỏ ra cho việc đàm phán luật áp dụng và các điều khoản về quy trình, thủ tục thực hiện hợp đồng tương đối lớn khiến có tới trên 86% các luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý này đồng ý với nhận định rằng “S tht tt nếu có mt b quy tc chi tiết v mua bán hàng hóa quc tế bình đng gia bên mua và bên bán áp dng t đng cho hp đng xut nhp khu ca tôi khi các bên không tha thun v lut áp dng hoc không th thng nht v lut áp dng”. Điều này cho thấy Công ước Viên được chào đón không chỉ trong trường hợp các bên “lơ đãng” bỏ qua vấn đề luật áp dụng mà thậm chí nó còn thực sự hữu dụng khi cho cung cấp cho các bên một giải pháp trung gian dễ chấp nhận khi họ đặc biệt chú trọng đến luật áp dụng cho hợp đồng và không thể đạt được tiếng nói chung về vấn đề này. Đây cũng chính là lý do giải thích tại sao Công ước Viên dù chưa phải là một văn bản có giá trị pháp lý tại Việt Nam nhưng vẫn được lựa chọn áp dụng trong một số hợp đồng do doanh nghiệp chúng ta ký kết.

Những điều này lý giải tại sao có tới 92% số ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn pháp lý được hỏi đã ủng hộ hoàn toàn việc Việt Nam cần nhanh chóng gia nhập Công ước Viên. Số ý kiến còn lại (8%) cũng không phản đối việc gia nhập nhưng muốn lưu ý hơn đến một số các vấn đề liên quan khi gia nhập (ví dụ để tránh ảo tưởng về việc Công ước Viên có thể thay thế tất cả các quy tắc thông lệ pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế hay lưu ý về sự tồn tại của nhiều cách giải thích khác nhau ở các cơ quan xét xử/giải quyết tranh chấp liên quan đến các điều khoản của Công ước này).

Liên quan đến các bảo lưu đối với Công ước Viên mà Việt Nam nên thực hiện, nhóm này cũng có ý kiến khá thống nhất trong đó đa số (50%) ủng hộ việc bảo lưu về hình thức hợp đồng, các bảo lưu khác nhận được sự ủng hộ thấp hơn. Điều này cho thấy có sự tương đồng thú vị giữa các nhà nghiên cứu lý thuyết và những người làm thực tiễn trong cách nhìn về các bảo lưu đối với Công ước Viên.

Có thể thấy từ điều tra khảo sát của các đối tượng trực tiếp chịu tác động của Công ước Viên cũng như những đối tượng khác làm việc chuyên môn hoặc nghiên cứu, từ góc độ thực tiễn lẫn lý thuyết về Công ước này đều cho kết quả thống nhất về những lợi ích to lớn mà Công ước có thể mang lại cho Việt Nam và đều thống nhất ở quan điểm rằng Việt Nam nên gia nhập Công ước này càng sớm càng tốt. Cùng với đó, các công việc khác như tuyên truyền, phổ biến về Công ước Viên cũng cần được chú trọng nhằm tận dụng được đầy đủ các lợi ích và hiệu quả của Công ước này.

Nguồn: “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham gia Công Ước Viên 1980”

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s