Trường hợp áp dụng CISG ở VN

Mặc dù Việt Nam chưa gia nhập CISG nhưng trong một số trường hợp, CISG vẫn được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là Việt Nam.

Để xem xét các trường hợp này, cần nghiên cứu Điều 1, khoản 1 của Công ước.

Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau:

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước; hoặc

b. Khi theo các quy phạm tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của một quốc gia thành viên của Công ước.”

Khi Việt Nam chưa là thành viên của Công ước Viên thì không thể áp dụng Công ước theo điều 1, khoản 1, điểm a cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà một bên là doanh nghiệp Việt Nam.

Xin được lưu ý tới trường hợp thứ hai. Theo trường hợp này, Công ước sẽ có thể được áp dụng cho các hợp đồng mua bán quốc tế được ký kết giữa một bên có trụ sở thương mại tại một quốc gia là thành viên và một bên có trụ sở thương mại tại Việt Nam. Lấy ví dụ, một hợp đồng mua bán sản phẩm viễn thông được ký kết giữa người bán Nhật Bản (Nhật Bản đã gia nhập Công ước Viên vào ngày 01/07/2008 và Công ước có hiệu lực tại Nhật Bản từ ngày 01/08/2009) và người mua Việt Nam (Việt Nam chưa gia nhập Công ước). Hai bên không lựa chọn luật áp dụng trong hợp đồng. Khi có tranh chấp xảy ra, cơ quan giải quyết tranh chấp (toà án hoặc trọng tài) sẽ phải dựa vào các qui phạm xung đột trong tư pháp quốc tế để xác định luật áp dụng cho hợp đồng. Nếu qui phạm xung đột dẫn chiếu đến luật nước người bán- tức là luật Nhật Bản, thì luật áp dụng cho hợp đồng sẽ là luật Nhật Bản. Nhưng vì Nhật Bản là một quốc gia thành viên của Công ước nên đối với các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, thẩm phán hay trọng tài sẽ không áp dụng luật của Nhật Bản mà sẽ áp dụng Công ước Viên để giải quyết tranh chấp.

Đây là điểm mà các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý nhằm có được thế chủ động khi CISG được áp dụng vào hợp đồng theo trường hợp thứ hai nêu trên.

Ngoài trường hợp nói trên, còn có hai trường hợp khác Công ước Viên có thể được áp dụng ở Việt Nam:

– Khi các bên trong hợp đồng lựa chọn Công ước này là luật áp dụng cho hợp đồng của mình.

– Khi trong hợp đồng, các bên không lựa chọn luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp lựa chọn Công ước này để giải quyết tranh chấp. Cơ quan giải quyết tranh chấp có thể là toà án Việt Nam, toà án nước ngoài, trọng tài Việt Nam hay trọng tài nước ngoài. Thẩm phán hay trọng tài có thể lựa chọn Công ước Viên là luật áp dụng hay là nguồn luật bổ sung nhằm bù đắp những thiếu sót của luật quốc gia hay của tập quán thương mại quốc tế.

Dù Việt Nam chưa gia nhập CISG nhưng doanh nghiệp Việt Nam  có thể vẫn đang “sống” cùng với CISG 

Trường hợp 1: Bản án ngày 05/04/1996 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử tranh chấp về hợp đồng mua bán giữa một công ty của Singapore và môt công ty Việt Nam. Trong bản án của mình, tòa án đã áp dụng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 của Việt Nam, UCP 500 của ICC, đồng thời dẫn chiếu đến các điều 29, 53, 61.3 và 64.1 để giải quyết tranh chấp[1].

Bình luận: Tuy Tòa án không giải thích vì sao áp dụng CISG nhưng trường hợp này cho thấy các thẩm phán Việt Nam đã biết đến và đã áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Có thể hiểu Tòa án áp dụng CISG để bổ sung và/hoặc khẳng định cho luật quốc gia (trong trường hơp này là luật Việt Nam). Việc áp dụng này hoàn toàn không vi phạm các nguyên tắc tư pháp quốc tế của Việt Nam, dù Việt nam chưa phải là thành viên Công ước.

Trường hợp 2: Hợp đồng giữa người bán Liechtenstein (liên bang Nga) và người mua Việt Nam về mua bán thép tấm. Trong hợp đồng, hai bên đã lựa chọn CISG làm luật áp dụng và khi xét xử tranh chấp, trọng tài quốc tế do hai bên lựa chọn đã áp dụng CISG[2].

Bình luận: trong hợp đồng này, người bán có trụ sở tại một quốc gia thành viên của CISG (liên bang Nga) và có thể người bán đã đề xuất lựa chọn CISG làm luật áp dụng và bên người mua Việt Nam đã đồng ý. Như vậy, dù Việt Nam chưa gia nhập CISG nhưng nếu doanh nghiệp Việt nam không chủ động tìm hiểu thì có thể sẽ rất bị động khi đối tác của bên Việt Nam là công ty của một quốc gia thành viên và họ đề xuất áp dụng CISG.

Trường hợp 3: Phán quyết trọng tài ICC số 8502 tháng 11/1996 xét xử tranh chấp giữa người bán Việt Nam và người mua Pháp. Hai bên đã thỏa thuận áp dụng Incoterms 1990 và UCP 500 của ICC. Trọng tài nhận định rằng, việc các bên dẫn chiếu đến Incoterms và UCP cho thấy ý định của các bên là hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi các tập quán thương mại quốc tế. Trọng tài đã quyết định áp dụng Công ước Viên do Công ước này được soạn thảo dựa trên các tập quán thương mại quốc tế và phản ánh các tập quán thường được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế[3].

Bình luận: Phán quyết này cho thấy khi tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giải quyết tại các quốc gia thành viên Công ước mà các bên không lựa chọn luật, đồng thời lại áp dụng các điều kiện cơ sở giao hàng Incoterms của ICC thì khả năng cơ quan xét xử áp dụng CISG là rất lớn.


Nguồn: “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham gia Công Ước Viên 1980”

 

[1] http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&do=case&id=350&step=FullText

[2] Xem quyết định số 4, trong: VCCI, Danida, Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, NXB Tư pháp, 2007, tr.34.

[3] http://www.unilex.info/case.cfm?pid=1&id=395&do=case

[4] Theo thống kê của Unilex thì có khoảng 100 trường hợp áp dụng CISG theo điều 1.1.b. Nguồn:http://www.unilex.info/dynasite.cfm?dssid=2376&dsmid=13356

3 thoughts on “Trường hợp áp dụng CISG ở VN

    • Hi bạn Doanh,

      CISG không áp dụng cho các hợp đồng dịch vụ. Vì vậy hợp đồng gia công (là một loại dịch vụ) hay hợp đồng đại lý phân phối sẽ không thuộc phạm vi áp dụng của Công ước. Một ngoại lệ đối với hợp đồng gia công là nếu bên khách hàng không cung cấp phần lớn nguyên vật liệu cho việc gia công (mà bên nhận gia công cung cấp các nguyên vật liệu này) thì sẽ được coi là mua bán hàng hóa và thuộc phạm vi áp dụng CISG, vì vậy tùy từng trường hợp cần xác định việc gia công có bị coi là mua bán hàng hóa ko. Hợp đồng trao đổi hàng hóa về bản chất vẫn là hợp đồng mua bán hàng hóa, nên trừ khi hợp đồng có các quy định đặc biệt rơi vào ngoại lệ không áp dụng của CISG (ví dụ Điều 3.2 về trường hợp nghĩa vụ của bên giao hàng chủ yếu là phải thực hiện một công việc hoặc cung cấp một dịch vụ khác), thì vẫn thuộc sự điều chỉnh của Công ước.

      Cảm ơn bạn,
      Mod

      • Cảm ơn mod về câu trả lời trên. Mình lại thắc mắc các trường hợp này có thuộc phạm vi điều chỉnh của công ước không, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết theo luật quốc gia hay cisg
        – 2 công ti Mĩ kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và thoả thuận luật điều chỉnh hợp đồng là cisg
        – 2 công ti Việt Nam kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước và thoả thuận luật điều chỉnh hợp đồng là cisg

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s