Áp dụng Điều 19 Công ước Viên với các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có sử dụng điều khoản soạn sẵn

(The application of Article 19 of CISG for international sale transactions using standard forms)

ThS. Võ Sỹ Mạnh

Ngày nay, trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, để tiết kiệm thời gian và chi phí, người bán và người mua thường sử dụng các điều khoản soạn sẵn để tiến hành giao dịch với nhau. Các điều khoản soạn sẵn thường được soạn thảo theo hướng có lợi cho bên soạn thảo. Do vậy, thực tiễn giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế giữa các bên sử dụng hợp đồng mẫu có chứa các điều khoản soạn sẵn sẽ làm phát sinh xung đột về quan điểm giữa các bên về các điều khoản soạn sẵn đó. Bài viết này phân tích các trường hợp giao kết hợp đồng có sử dụng điều khoản soạn sẵn thông qua việc áp dụng Điều 19 của Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là Công ước Viên).

1. “Điều khoản soạn sẵn” là gì?

Công ước Viên không đưa ra khái niệm về “điều khoản soạn sẵn”. Khoản 2 Điều 2.19 của Những nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là PICC – Principles of International Commercial Contracts)[1] đưa ra khái niệm về “hợp đồng soạn sẵn”, theo đó hợp đồng soạn sẵn là “những hợp đồng có những điều khoản được chuẩn bị từ trước cho việc sử dụng lại nhiều lần và nhìn chung được tiến hành không qua đàm phán với phía bên kia”.[2] Từ quy định này của PICC có thể hiểu điều khoản soạn sẵn là những điều khoản trong hợp đồng được các bên chuẩn bị trước để sử dụng nhiều lần hoặc đang được sử dụng cho bên kia mà không cần phải thỏa thuận lại nội dung của những điều khoản đó.

Các điều khoản soạn sẵn này thường được in sẵn ở mặt sau của hợp đồng, vì thế, về mặt nguyên tắc, các điều khoản soạn sẵn này sẽ có giá trị ràng buộc đối với bên kia chỉ khi bên kia chấp nhận. Chẳng hạn, hai bên có thể viện dẫn đến các điều khoản soạn sẵn trong một hợp đồng hoặc sự viện dẫn này được các bên tự hiểu. Việc dẫn chiếu một cách tự hiểu các điều khoản soạn sẵn chỉ có thể được công nhận nếu như cả hai bên đối tác đã có mối quan hệ từ trước và đã tạo thành một thói quen hay tập quán sử dụng các điều khoản soạn sẵn.[3] Vì vậy, các điều khoản soạn sẵn trong hợp đồng thường chỉ có giá trị ràng buộc khi có đầy đủ chữ ký của các bên ngay dưới các điều khoản soạn sẵn đó.[4] Khi không đảm bảo yêu cầu này thì liệu hợp đồng có được giao kết hay không, nếu có thì nội dung của hợp đồng là điều khoản soạn sẵn của bên nào. Phần dưới đây sẽ trình bày cách giải quyết vấn đề này bằng việc áp dụng quy định tại điều 19 Công ước Viên.

2. Điều 19 Công ước Viên với việc xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết

Khoản 1 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng “Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá”. Quy định này phản ánh quy tắc “hình ảnh trong gương”[5] theo đó một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết khi nội dung của chào hàng được bên kia chấp nhận một cách đầy đủ, chính xác về mọi điều kiện nêu trong chào hàng. Điều này có nghĩa là nếu một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung tạo nên sự khác biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng thì sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đó sẽ cấu thành một chào hàng mới hoặc một hoàn giá. Quy định này của Công ước Viên được áp dụng cho cả những điều khoản soạn sẵn trong các hợp đồng hoặc trong các mẫu chào hàng và chấp nhận chào hàng mẫu.

Trong thực tiễn giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, cả người bán và người mua đều có những mẫu chào hàng và/hoặc chấp nhận chào hàng riêng chứa đựng những điều khoản soạn sẵn nhằm phục vụ cho lợi ích của họ. Do đó, một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng lại làm thay đổi hoặc bổ sung chào hàng là điều dường như khó tránh khỏi. Nếu theo quy tắc “hỉnh ảnh trong gương” thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khó có thể được coi là giao kết.

Tuy nhiên, khoản 2 điều 19 quy định rằng “một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng. Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng”. Khoản 2 điều 19 chính là ngoại lệ của quy tắc “hình ảnh trong gương” và làm dịu bớt “sự khe khắt” của quy tắc này, theo đó, yêu cầu một sự chấp nhận toàn bộ của khoản 1 điều 19.[6] Theo quy định tại khoản 2 điều 19 Công ước Viên thì không phải mọi sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đều được coi là sửa đổi hoặc bổ sung chào hàng. Tuy nhiên, những sửa đổi hoặc bổ sung “không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng” và người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện sự phản đối “ngay lập tức” với những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì hợp đồng xem như được giao kết. Từ đó, có thể thấy rằng, vấn đề quan trọng của việc xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có được giao kết hay không tùy thuộc vào sự trả lời chào hàng của người được chào hàng có chứa đựng những điều khoản làm biến đổi (sửa đổi hoặc bổ sung) cơ bản hay không cơ bản chào hàng.

Trường hợp 1: Sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đã làm biến đổi cơ bản chào hàng

Công ước Viên không đưa ra khái niệm hay định nghĩa rõ thuật ngữ “cơ bản”[7] mà thay vào đó là liệt kê những điều kiện được xem là sửa đổi hoặc bổ sung một cách “cơ bản” nội dung của chào hàng tại khoản 3 điều 19. Đó là những yếu tố sửa đổi hay bổ sung liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến sự giải quyết tranh chấp. Về mặt nguyên tắc, nếu sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng có chứa đựng những điều khoản sửa đổi hoặc bổ sung một trong các nội dung nêu trên thì đều bị xem là đã có sự sửa đổi hoặc bổ sung một cách cơ bản chào hàng.

Một sự trả lời chào hàng có chứa đựng những điều khoản soạn sẵn sửa đổi hoặc bổ sung điều khoản soạn sẵn nêu trong chào hàng, thậm chí mâu thuẫn với điều khoản soạn sẵn đó, làm thay đổi cơ bản chào hàng thì không thể xem là một chấp nhận chào hàng theo điều 19 khoản 1 mà là một chào hàng mới hay một hoàn giá. Lúc này sẽ không tồn tại hợp đồng giữa bên chào hàng và bên trả lời chào hàng đó nếu không có sự chấp nhận lại chào hàng mới/hoàn giá của bên trả lời chào hàng. Nói cách khác, các điều khoản soạn sẵn của bên được chào hàng nếu làm biến đổi một cách cơ bản chào hàng thì cần có sự chấp nhận của bên chào hàng và ngược lại. Vị trí của bên chào hàng và bên trả lời chào hàng có thể hoán đổi liên tục, tức là chào hàng và trả lời chào hàng diễn ra liên tục giữa các bên khi các bên sử dụng các điều khoản soạn sẵn.

Trong trường hợp này, hợp đồng chỉ được giao kết khi hoàn giá cuối cùng được chấp nhận bằng sự tuyên bố hoặc thực hiện hành vi của bên kia. Điều này có nghĩa là bên được chào hàng/hoàn giá sau cùng tuyên bố chấp nhận chào hàng/hoàn giá của bên kia hoặc thực hiện hành vi nào đó thể hiện sự đồng ý theo chào hàng/hoàn giá có thể cấu thành một sự chấp nhận chào hàng.[8] Ví dụ,[9] người mua gửi cho người bán một chào hàng mua máy móc sản xuất. Mặt sau của chào hàng ghi rõ điều khoản soạn sẵn “Người bán sẽ chịu trách nhiệm với những tổn thất do lỗi máy móc gây ra”. Sau đó, người bán giao cho người mua một xác nhận đặt hàng theo đó người bán đồng ý với các điều khoản quy định trong chào hàng của người mua, ngoại trừ mặt sau mẫu của người bán quy định điều khoản soạn sẵn “Người bán sẽ thay thế hoặc sửa chữa phần máy móc hỏng nhưng sẽ không chịu trách nhiệm đối với chi phí giảm bớt kinh doanh hoặc tiền bồi thường hậu quả do lỗi máy móc”. Người bán giao hàng cho người mua, người mua đã nhận hàng và đưa vào sử dụng. Ví dụ này cho thấy rằng, rõ ràng sự trả lời chào hàng của người bán đã chứa đựng điều khoản làm biến đổi cơ bản đến “phạm vi trách nhiệm của người bán đối với người mua” theo quy định tại khoản 3 điều 19. Sự trả lời chào hàng của người bán đã cấu thành một hoàn giá. Tuy nhiên, tiếp sau sự trao đổi chào hàng và trả lời chào hàng là hành vi giao hàng và chấp nhận hàng hóa thể hiện giữa hai bên đã tồn tại một hợp đồng.

Hành vi giao hàng và chấp nhận hàng hóa của hai bên có thể xem như “chữ ký thể hiện sự chấp nhận các điều khoản soạn sẵn” như quy định tại điều 19 Công ước Viên bất kể họ có biết nội dung chi tiết và hoàn toàn hiểu nội dung của các điều khoản đó hay không. Điều này có đồng nghĩa với việc bên chấp nhận bị ràng buộc bởi cả những điều khoản có nội dung, ngôn từ, hoặc cách diễn đạt không thể hiểu một cách hợp lý; những điều khoản soạn sẵn để gây bất lợi về kinh tế cho một bên hay không. Cũng ví dụ trên, ngoài điều khoản soạn sẵn của bên chào hàng còn rất nhiều điều khoản soạn sẵn khác được in chữ nhỏ quy định “tranh chấp giữa các bên sẽ được đưa ra hội đồng trọng tài đặc biệt và giải quyết theo thủ tục của địa phương”, thì liệu tranh chấp xảy ra điều khoản soạn sẵn này có ràng buộc bên chấp nhận không, bên chấp nhận chào hàng có thực sự hiểu rõ ý nghĩa của điều khoản này không, bất kể điều khoản này đã được dịch ra ngôn ngữ của bên chấp nhận chào hàng hay chưa. Dường như điều 19 chưa thể giải quyết triệt để được vấn đề này.[10]

Trường hợp 2: Sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng không làm biến đổi cơ bản chào hàng

Rõ ràng, một  trả lời chào hàng có chứa đựng các điều khoản soạn sẵn mà sửa đổi hoặc bổ sung nội dung của chào hàng nhưng những sự sửa đổi hoặc bổ sung đó không làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng, tức không thuộc những yếu tố quy định tại khoản 3 điều 19 thì trả lời chào hàng đó sẽ cấu thành một chấp nhận chào hàng trừ khi bên chào hàng ngay lập tức thông báo rằng phản đối những sửa đổi hoặc bổ sung đó.

Xuất phát từ thực tiễn áp dụng điều 19 của một số tòa án quốc gia, những sửa đổi hoặc bổ sung liên quan đến những vấn đề sau được xem là không làm thay đổi cơ bản chào hàng: điều khoản điều chỉnh giá của chào hàng phù hợp với giá thị trường;[11] điều khoản bảo lưu sự thay đổi ngày giao hàng trong điều khoản soạn sẵn của người bán;[12] điều khoản yêu cầu giữ bí mật nội dung hợp đồng đến khi các bên công bố nội dung của hợp đồng đó;[13] điều khoản quy định việc người mua từ chối hàng được giao trong thời gian được quy định.[14]

Như vậy, trong trường hợp trả lời chào hàng có chứa đựng những điều khoản soạn sẵn mà sửa đổi hoặc bổ sung một số nội dung trên, nếu người chào hàng ngay lập tức phản đối bằng miệng những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì trả lời chào hàng của người được chào hàng bị xem như từ chối chào hàng, trái lại, hợp đồng sẽ được giao kết.

3. Điều 19 với điều khoản soạn sẵn

Như đã trình bày ở trên, trong giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, các bên thường sử dụng các mẫu chào hàng và chấp nhận chào hàng chứa đựng những điều khoản soạn sẵn, bằng việc áp dụng điều 19 Công ước Viên, cơ quan giải quyết tranh chấp đã có thể xác định được hợp đồng giữa các bên đã được giao kết hay chưa. Tuy nhiên, sau khi xác định hợp đồng đã được giao kết, theo đúng quy định tại điều 19 Công ước Viên, vấn đề khó khăn là xác định điều khoản soạn sẵn trong mẫu của bên nào sẽ là nội dung của hợp đồng, đặc biệt khi các điều khoản soạn sẵn đó xung đột nhau. Lúc này, có 2 tình huống xảy ra: (1) Những điều khoản soạn sẵn xung đột đó sẽ không có giá trị pháp lý, tức là hợp đồng sẽ được giao kết gồm những điều khoản soạn sẵn chứa đựng trong mẫu của các bên, trừ những điều khoản soạn sẵn nào xung đột nhau; (2)  Một trong các điều khoản soạn sẵn xung đột sẽ không có giá trị pháp lý, tức là hợp đồng sẽ được giao kết gồm những điều khoản soạn sẵn chứa đựng trong mẫu của các bên và một trong những điều khoản soạn sẵn xung đột. Phần dưới đây sẽ phân tích 2 tình huống này.

Tình huống thứ nhất, những điều khoản soạn sẵn xung đột nhau sẽ không có giá trị pháp lý

Mặc dù hợp đồng được ký kết theo điều 19 Công ước Viên nhưng những điều khoản soạn sẵn xung đột nhau sẽ không có giá trị pháp lý, có nghĩa là khi các điều khoản soạn sẵn xung đột nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau thì không có điều khoản soạn sẵn của bên nào cấu thành nội dung của hợp đồng. Vụ tranh chấp sữa bột[15] giữa công ty ở Đức (người bán) và công ty ở Hà Lan (người mua) là một ví dụ. Người bán bán 2557,5 MT sữa bột cho người mua để xuất khẩu sang Algeria và Aruba vào quý I/1998. Khách hàng ở các quốc gia này khiếu nại rằng một phần sữa bột bị tổn thất và người mua khiếu nại đòi bồi thường từ người bán Đức. Người bán đã thừa nhận tổn thất và đồng ý thay thế số sữa bột bị tổn thất nhưng từ chối bồi thường tổn thất như yêu cầu của người mua. Trong chào hàng của người bán gửi người mua có điều khoản soạn sẵn quy định: Chúng tôi bán hàng hoàn toàn căn cứ vào điều kiện và điều khoản chung của chúng tôi. Những điều kiện luật định trái ngược hoặc những điều kiện và điều khoản chung trái ngược của người mua không được thừa nhận và không phải là một phần nội dung của hợp đồng” Điều kiện và điều khoản chung của người bán quy định về bảo hành và thông báo tổn thất như sau: “Người mua phải kiểm tra hàng hóa ngay khi nhận hàng và ghi chú bất cứ khiếu nại nào vào Giấy nhận hàng…Những khuyết tật không được thông báo khi nhận hàng chỉ có thể khiếu nại trước khi hết thời hạn…; nếu người mua không hành động như thế người mua không thể khiếu nại bất cứ điều gì liên quan đến bảo hành”. Trái lại, trong thư xác nhận của người mua có điều khoản soạn sẵn quy định: “Dù người bán phải trả lại một phần hoặc toàn bộ số tiền mua hàng, trách nhiệm của người bán đối với những tổn thất xảy ra trong mọi trường hợp chỉ giới hạn trong số tiền hàng hóa được giao ghi trong hóa đơn”. Với những nội dung xung đột nhau ở điều khoản trên, về mặt nguyên tắc đã làm biến đổi cơ bản nội dung chào hàng của người bán. Tuy nhiên, Tòa án tối cao của Đức vẫn công nhận hợp đồng được giao kết giữa người bán và người mua và tuyên phán quyết rằng không điều khoản soạn sẵn nào trong các điều khoản trên cấu thành nội dung của hợp đồng, tức các điều khoản trên bị loại trừ. Tòa án tối cao của Đức đã từ chối viện dẫn một trong các điều khoản soạn sẵn trên vì có thể điều khoản viện dẫn đó sẽ có lợi cho một bên còn lại. Điều khoản soạn sẵn của người mua hoàn toàn hợp lý và cân bằng nhưng lại mâu thuẫn với các điều khoản soạn sẵn của người bán nên tòa án không thể trích dẫn một số điều khoản có lợi cho người bán.

Qua tranh chấp này, thông điệp của Tòa án tối cao Đức rất rõ ràng: Mặc dug những điều khoản soạn sẵn xung đột nhau thì hợp đồng vẫn được giao kết và có giá trị pháp lý theo quy định tại điều 19 Công ước Viên nhưng những điều khoản soạn sẵn đó hoàn toàn không có giá trị pháp lý, không rang buộc các bên đưa ra cũng như chấp nhận các điều khoản soạn sẵn. Những điều khoản soạn sẵn xung đột với nhau đó sẽ được thay thế bởi các quy định của Công ước Viên có liên quan.

Từ đó cho thấy rằng mặc dù những điều khoản soạn sẵn trong các mẫu chào hằng hoặc chấp nhận chào hàng của các bên xung đột với nhau, dẫn đến làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung của chào hàng theo quy định của điều 19 Công ước Viên, thì các tòa án thường thích bỏ qua những điều khoản xung đột đó hơn là tuyên bố không có sự giao kết hợp đồng. Bằng việc áp dụng học thuyết “knock-out”[16] , tòa án tuyên vô hiệu những điều khoản soạn sẵn xung đột với nhau hoặc không xem xét đến các điều khoản soạn sẵn xung đột đó. Việc áp dụng học thuyết “knock-out” trong các vụ tranh chấp trên, điều 19(3) dường như chỉ có tác dụng xác định có điều khoản soạn sẵn xung đột hay không vì nếu những điều khoản chủ yếu của hợp đồng đã được thỏa thuận và các bên đã thực hiện, tòa án sẽ xem hợp đồng có giá trị và bác bỏ những điều khoản soạn sẵn xung đột.

Tình huống thứ hai, những điều khoản soạn sẵn xung đột cấu thành một phần nội dung của hợp đồng

Trong trường hợp này, khi áp dụng điều 19 Công ước Viên, tòa án một số quốc gia thường áp dụng quy tắc “phát súng cuối cùng”[17] để xác định nội dung của hợp đồng.[18] Theo quy tắc “phát súng cuối cùng”, khi các bên trao đổi cho nhau các hoàn giá (trả lời chào hàng có chứa đựng các điều khoản soạn sẵn làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung chào hàng), mà bên nhận được hoàn giá cuối cùng bắt đầu thực hiện hợp đồng nhưng không có phản đổi gì về các điều khoản soạn sẵn thì hợp đồng được coi như đã được giao kết dựa trên các điều khoản bên cuối cùng nhận được. Ví dụ, trong vụ Áo len dài tay[19], người mua Đức gửi cho người bán Ý một đơn đặt hàng có điều khoản soạn sẵn với nội dung“Những điều kiện chuẩn của ngành quần áo và dệt may của Đức là một phần của đơn đặt hàng”, sau đó người bán xác nhận lai đơn đặt hàng của người mua kèm theo điều khoản soạn sẵn với nội dung “Những điều kiện giao hàng và bán hàng chung trong quan hệ hợp đồng với khách hàng nước ngoài” của người bán. Rõ ràng là chấp nhận của người bán đối với đơn đặt hàng của người mua đã làm biến đổi cơ bản điều khoản soạn sẵn của đơn đặt hàng theo quy định của điều 19 khoản 3. Tuy nhiên, người mua đã chấp nhận những điều kiện chung bổ sung đó, có nghĩa là hoàn giá của người bán, bằng việc thực hiện hợp đồng. Vì thế, Tòa phúc thẩm của Đức đã tuyên quyết rằng hợp đồng đã được giao kết và điều khoản của hợp đồng là những điều khoản soạn sẵn trong đơn đặt hàng của người mua kèm theo những sửa đổi trong chấp nhận đơn đặt hàng của người bán, tức điều khoản soạn sẵn nói trên. Điều này đồng nghĩa với điều khoản soạn sẵn của người mua sẽ không có giá trị pháp lý, không cấu thành một phần nội dung của hợp đồng.

Điều 19 Công ước Viên cũng chính là cơ sở để xác định điều khoản soạn sẵn nào trong số các điều khoản soạn sẵn sẽ là nội dung của hợp đồng.[20] Dù trả lời chào hàng có làm biến đổi cơ bản chào hàng hay không thì điều khoản soạn sẵn của bên cuối cùng đưa ra câu trả lời sẽ cấu thành một phần nội dung của hợp đồng được ký kết nếu bên chấp nhận cuối cùng không từ chối “ngay lập tức”. Điều này có nghĩa là điều khoản soạn sẵn của bên còn lại sẽ bị từ chối và không cấu thành nội dung của hợp đồng.[21]

Tuy nhiên, nếu bên cuối cùng nhận được trả lời chào hàng có chứa đựng những điều khoản soạn sẵn làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung chào hàng mà lại thực hiện theo sự trả lời hoặc không có sự phản đổi sự trả lời thì một số tòa án xem hành động đó là sự chấp nhận các điều khoản soạn sẵn.[22] Điều này được minh chứng bởi vụ Filanto v. Chilewich[23], theo đó tòa án quyết định rằng nhà sản xuất đã chấp nhận quy định trọng tài như một phần của hợp đồng bởi vì anh ta đã không phản đối ngay lập tức và tiến hành mở Thư tín dụng. Tương tự, trong vụ tranh chấp Magellan Int’l Corp. v. Salzgitter Handel GmbH[24], tòa án cho rằng hợp đồng đã được giao kết khi nhà phân phối thể hiện sự đồng ý bằng việc mở thư tín dụng và điều khoản của hợp đồng là những điều khoản đã được thỏa thuận vào thời điểm mở thư tín dụng.

Kết luận

Thực tiễn ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã làm xuất hiện nhu cầu sử dụng các điều khoản soạn sẵn trong hợp đồng, trong chào hàng…. Việc soạn thảo sẵn các điều khoản này chủ yếu nhằm phục vụ cho lợi ích của bên soạn thảo nó và sự xung đột giữa các điều khoản soạn sẵn này dường như là điều khó tránh khỏi.

Bằng việc áp dụng các quy định nêu tại điều 19 Công ước Viên, một số tòa án của một số quốc gia đã có thể xác định được sự giao kết hợp đồng trong những tranh chấp có liên quan đến các điều khoản soạn sẵn của các bên tham gia giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế. Bên cạnh đó, điều 19 cũng cho phép tòa án xác định nội dung của hợp đồng khi các điều khoản soạn sẵn làm biến đổi cơ bản hoặc không cơ bản nội dung chào hàng của một bên, theo đó các điều khoản soạn sẵn sẽ không có giá trị pháp lý hoặc một trong số các điều khoản soạn sẵn sẽ cấu thành nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Tài liệu tham khảo

  1. Công ước Viên năm 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
  2. 2. Viện thống nhất tư pháp quốc tế, “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”, Nxb.Tp.Hồ Chí Minh, 1999
  3. 3. John O. Honnold, ‘Article 19: Acceptance with Modifications’
  4. 4. Larry A. DiMatteo, Lucien Dhooge, Stephanie Greene,Virginia Maurer and Marisa Pagnattaro, ‘The Interpretive Turn in International Sales Law: An Analysis of Fifteen Years of CISG Jurisprudence’ (2004) 34 Northwestern Journal of International Law and Business 299-440
  5. 5. John E. Murray, ‘An Essay on the Formation of Contracts and Related Matters under the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (1988) 8 Journal of Law and Commerce 11-51
  6. 6. Andre Corterier, ‘A Peace Plan for the Battle of the Forms’ (2006) 10 Int’l Trade & Bus. L. Rev. 195
  7. 7. http://cisgw3.law.pace.edu/

[1] Đây là những nguyên tắc do Viện Thống nhất Tư pháp quốc tế, viết tắt theo tiếng Pháp là UNIDROIT (Insitut International Pour l’Unification des Droits Privé), một tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập năm 1929, đặt trụ sở tại Roma, Italia soạn thảo và ấn hành vào năm 1994. Tổ chức này đã tập trung nghiên cứu tìm kiếm các quy định chung để điều chỉnh hợp đồng sao cho có thể thích hợp trong nhiều hệ thống pháp luật của những nước khác nhau.

[3] Viện thống nhất tư pháp quốc tế, “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”, Nxb.Tp.Hồ Chí Minh, 1999, tr.38

[4] Viện thống nhất tư pháp quốc tế, “Những nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế”, Nxb.Tp.Hồ Chí Minh, 1999, tr.38

[5] Tiếng anh là “mirror image rule”

[6] Xem thêm Điều 396 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”

[7] Nguyên bản tiếng anh là “materially”

[8] Xem thêm Điều 18 Công ước Viên

[9] John O. Honnold, ‘Article 19: Acceptance with Modifications’ tham khảo tại http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/ho19.html

[10] Về vấn đề này, xem them cách xử lý của Những nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế.

[11] CLOUT case No. 158 [FRANCE Cour d’appel [Appellate Court] Paris 22 April 1992, tham khảo tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920422f1.html>]

[12] CLOUT case No. 362 [GERMANY Oberlandesgericht [Appellate Court] Naumburg 27 April 1999, tham khảo tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/990427g1.html>]

[13] [HUNGARY Fováosi Biróság [Metropolitan Court] Budapest 10 January 1992, tham khảo tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/920110h1.html>]

[14] CLOUT case No. 50 [GERMANY Landgericht [District Court] Baden-Baden 14 August 1991, tham khảo tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/910814g1.html>]

[15] [GERMANY Bundesgerichtshof [Federal Supreme Court] 9 January 2002, tham khảo tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/020109g1.html>]

[16] Larry A. DiMatteo, Lucien Dhooge, Stephanie Greene,Virginia Maurer and Marisa Pagnattaro, ‘The Interpretive Turn in International Sales Law: An Analysis of Fifteen Years of CISG Jurisprudence’ (2004) 34 Northwestern Journal of International Law and Business 299-440

[17] “The last shot” doctrine.

[18] John E. Murray, ‘An Essay on the Formation of Contracts and Related Matters under the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (1988) 8 Journal of Law and Commerce 11-51

[19] CLOUT case No. 232 [GERMANY Oberlandesgericht [Appellate Court] München 11 March 1998, tham khảo tại  <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/980311g1.html>]

[20] Andre Corterier, ‘A Peace Plan for the Battle of the Forms’ (2006) 10 Int’l Trade & Bus. L. Rev. 195

[21] John E. Murray, ‘An Essay on the Formation of Contracts and Related Matters under the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (1988) 8 Journal of Law and Commerce 11-51

[22] Larry A. DiMatteo, Lucien Dhooge, Stephanie Greene,Virginia Maurer and Marisa Pagnattaro, ‘The Interpretive Turn in International Sales Law: An Analysis of Fifteen Years of CISG Jurisprudence’ (2004) 34 Northwestern Journal of International Law and Business 299-440.

[23] Filanto v. Chilewich, 789 F. Supp. 1229, 1240 (S.D.N.Y. 1992)

[24] Magellan Int’l Corp. v. Salzgitter Handel GmbH, No. 99 Civ. 5153, 1999 U.S. Dist. LEXIS 19386 (N.D. Ill. Dec. 7, 1999)

4 thoughts on “Áp dụng Điều 19 Công ước Viên với các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế có sử dụng điều khoản soạn sẵn

  1. Cảm ơn thầy vì những thông tin ở đây, đặc biệt là những án lệ trong việc áp dụng CISG! Thật sự giúp ích rất nhiều cho việc học luật của em ! ^ ^

  2. Đây là bài đầu tiên của Thầy mà em đọc. Thầy viết rất hay ạ. Mặc dù em đã học xong môn của Thầy từ kỳ trước nhưng thông tin này phục vụ cho cả môn “Pháp luật kinh doanh quốc tế’ mà em đang học. Em cảm ơn Thầy. Chúc Thầy thành công hơn nữa.

  3. It is appropriate time to make a few plans for the long run and it’s time to be happy. I have read this publish and if I could I wish to suggest you few interesting things or tips. Perhaps you can write subsequent articles relating to this article. I want to learn more issues approximately it!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s