Vấn đề sửa đổi khái niệm mua bán hàng hóa quốc tế trong luật thương mại để gia nhập công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 (CISG)(1) đóng vai trò quan trọng trong quá trình thống nhất luật pháp quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hoá. Hiện nay, trên thế giới đã có 76 quốc gia tham gia Công ước,(2) trong đó nhiều quốc gia là đối tác kinh tế, thương mại của Việt Nam như: Hoa Kỳ, Singapore, Pháp… Việc gia nhập CISG là đòi hỏi khá cấp thiết trong điều kiện Việt Nam ngày càng gia tăng các quan hệ thương mại quốc tế với các quốc gia khác trên thế giới. Tuy nhiên, để gia nhập CISG thì pháp luật thương mại của Việt Nam cần được rà soát kĩ lưỡng để sửa đổi, bổ sung tương thích với các quy định của CISG, loại bỏ dần những điều khoản chưa phù hợp mà không thuộc trường hợp có thể bảo lưu theo quy định tại các điều 11, 12, 29 và 96 của CISG. Một trong các quy định cơ bản, bao trùm cần được ưu tiên xem xét là khái niệm pháp lí “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam trên cơ sở tương thích với pháp luật quốc tế.

1. Khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam

Luật thương mại năm 2005 có một chương quy định về mua bán hàng hoá (Chương II), trong đó chỉ có bảy điều luật quy định riêng về mua bán hàng hoá quốc tế và không có điều luật nào xác định cụ thể, trực tiếp về khái niệm và phạm vi nội hàm của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Khoản 2 và khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Hàng hoá bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; những vật gắn liền với đất đai”.

“Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.

Quan hệ mua bán hàng hoá được xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lí là hợp đồng mua bán hàng hoá. Trước tiên, hợp đồng mua bán hàng hoá có bản chất chung của hợp đồng, là sự thoả thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hoá.(3) Mặc dù Luật thương mại năm 2005 không đưa ra định nghĩa về hợp đồng mua bán hàng hoá nhưng trên cơ sở Điều 428 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hợp đồng mua bán tài sản và khoản 8 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, chúng ta có thể vận dụng để rút ra khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá như sau: Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng hoá cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hoá và trả tiền cho bên bán.(4) Như vậy, hợp đồng mua bán hàng hoá trong thương mại là dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản trong pháp luật dân sự (hiểu theo nghĩa rộng).

Luật thương mại năm 2005 của Việt Nam cũng không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hoặc yếu tố quốc tế, nước ngoài của hợp đồng mua bán hàng hoá mà chỉ quy định về mua bán hàng hoá quốc tế tại Điều 27 như sau:

“1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

  1. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương”.

Như vậy, khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 đã liệt kê các hình thức cụ thể của việc mua bán hàng hoá quốc tế, bao gồm 5 hình thức:

  • Xuất khẩu;
  • Nhập khẩu;
  • Tạm nhập, tái xuất;
  • Tạm xuất, tái nhập;
  • Chuyển khẩu.

Từ đó có thể suy luận rằng hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo pháp luật Việt Nam là văn bản thoả thuận của các cá nhân, tổ chức trong việc xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái  nhập và chuyển khẩu hàng hoá. Hai hay nhiều bên tham gia giao dịch mua bán hàng hoá quốc tế – một loại giao dịch dân sự(5) hoặc giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế – một loại hợp đồng dân sự(6) theo pháp luật Việt Nam có thể là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài; có nơi cư trú hoặc trụ sở ở Việt Nam hoặc nước ngoài. Nghĩa là, theo quy định của Luật thương mại năm 2005, hoạt động mua bán hàng hoá được coi là mua bán hàng hoá quốc tế không phụ thuộc vào nơi cư trú, trụ sở hay quốc tịch của các bên là Việt Nam hay nước ngoài. Luật thương mại năm 2005 lấy tiêu chí vận chuyển hàng hoá qua biên giới để xác định quan hệ mua bán hàng hoá là mua bán hàng hoá quốc tế.

Mặt khác, Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay  đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”. Như vậy, khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” với tư cách là hoạt động thương mại hoặc quan hệ thương mại theo khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 có phạm vi hẹp hơn so với “mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài” xuất phát từ khái niệm “quan hệ dân sự có yếu tố nước  ngoài” theo Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005. Căn cứ quy định về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005, chúng ta có thể xác định các dấu hiệu của quan hệ mua bán hàng hoá là “có yếu tố nước ngoài” như sau:

  • Ít nhất một trong các bên tham gia mua bán hàng hoá là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài;
  • Các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ mua bán hàng hoá theo pháp luật nước ngoài;
  • Hàng hoá – đối tượng mua bán ở nước ngoài.

Trong khi đó, “mua bán hàng hoá quốc tế” theo Luật thương mại năm 2005 chỉ căn cứ vào tiêu chí duy nhất là hàng hoá được vận chuyển qua biên giới.

Về nguyên tắc, Bộ luật dân sự với tư cách là luật “gốc” sẽ có hiệu lực áp dụng đối với các hoạt động thương mại chưa được điều chỉnh bởi Luật thương mại. Theo khoản 3 Điều 4 Luật thương mại năm 2005, “Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự”. Mặc dù vậy, hai thuật ngữ pháp lí “quốc tế” và “yếu tố nước ngoài” hiện nay vẫn đang tồn tại song song trong hệ thống pháp luật Việt Nam và có sự khác biệt về nội hàm. Hệ quả là khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” của Luật thương mại năm 2005 (một trong những luật chuyên biệt) đã được xây dựng không thống nhất với nguyên tắc xác định “yếu tố nước ngoài” của Bộ luật dân sự năm 2005 (luật “gốc”).

2.  Khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” theo pháp luật Việt Nam chưa tương thích với CISG

Mặc dù CISG không quy định về khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng Điều 1 của CISG đã gián tiếp xác định phạm vi của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như sau:

“1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

  1. Khi các quốc gia này là các quốc gia

thành viên của Công ước hoặc,

  1. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
  1. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm kí hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
  2. Quốc tịch của các bên, quy chế dân sự hoặc thương mại của họ, tính chất dân sự hay thương mại của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này”.

Như vậy, theo quy định tại Điều 1 của CISG thì yếu tố quốc tế của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được xác định bởi một yếu tố duy nhất là trụ sở thương mại của các bên phải đặt tại các quốc gia khác nhau mà không phụ thuộc vào địa điểm kí kết hợp đồng và cũng không xét đến việc hàng hoá có được dịch chuyển qua biên giới hay không. Qua đó chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế theo Luật thương mại năm 2005 và CISG.

Ngay cả khi Việt Nam chưa gia nhập CISG thì căn cứ Điều 1.1 (b) đã viện dẫn ở trên, CISG vẫn có hiệu lực áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia trong trường hợp theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên CISG kí hợp đồng mua bán hàng hoá với Việt Nam.(7) Vì vậy, sự không thống nhất về nội hàm khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sẽ gây ra khó khăn và những cách hiểu khác nhau trong quá trình áp dụng các quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia.

Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là căn cứ quan trọng để xác định những hợp đồng mua bán hàng hoá nào có thương nhân Việt Nam tham gia được áp dụng theo các quy định pháp luật về hợp đồng hàng hoá quốc tế nói chung và CISG nói riêng. Trước đây, trong Luật thương mại năm 1997 (đã hết hiệu lực) có định nghĩa về “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài”. Thuật ngữ “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài” không phù hợp với CISG. Lẽ ra khi ban hành Luật thương mại năm 2005 thay thế Luật thương mại năm 1997 thì định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài phải được thay thế bằng định nghĩa hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế nhưng trong Luật thương mại năm 2005 lại không có định nghĩa này. Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 chỉ nêu ra các hình thức mua bán hàng hoá quốc tế và  khoản  2  Điều  27  quy  định  “mua bán

hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương” mà không đề cập hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Từ đó buộc phải hiểu một cách “suy diễn” rằng hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là văn bản hoặc hình thức tương đương văn bản ghi nhận nội dung thoả thuận giữa các bên về việc mua bán hàng hoá có yếu tố quốc tế. Tuy nhiên, yếu tố quốc tế đó cũng không được chỉ ra một cách rõ ràng trong khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005. Trong Luật thương mại năm 2005 không có những quy định cụ thể về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế như: khái niệm, phân loại, nội dung cơ bản, thủ tục giao kết, điều kiện có hiệu lực…

Việc xác định phạm vi của hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế bằng cách liệt kê ra các hình thức của mua bán hàng hoá quốc tế tại khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 khiến cho khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế trở nên bị hạn chế, hẹp lại so với quy định tại Điều 758 Bộ luật dân sự năm 2005 và không rõ ràng:

  • Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế hẹp ở chỗ: Nếu căn cứ theo khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 thì mua bán hàng hoá quốc tế bao gồm 5 hình thức: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập và chuyển khẩu. Nghĩa là theo Luật thương mại Việt Nam thì yếu tố quốc tế của mua bán hàng hoá quốc tế chỉ nằm ở điều kiện vận chuyển hàng hoá qua biên giới mà không xem xét đến trụ sở thương mại của các chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hoá quốc tế. Điều này cũng chưa  phù hợp    với

CISG bởi lẽ CISG quy định phạm vi áp dụng dựa trên duy nhất một điều kiện là các bên có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau.

  • Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế không rõ ràng về mặt ngôn từ thể hiện ở chỗ: Khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 nêu ra các hình thức mua bán hàng hoá quốc tế như: “xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu”. Như vậy, tổng cộng có 7 hình thức mua bán hàng hoá quốc tế. Tuy nhiên, theo các điều khoản giải thích cụ thể (các điều 28, 29 và 30 Luật thương mại năm 2005) thì thực chất “tạm nhập, tái xuất” là “tạm nhập” đi kèm với “tái xuất” và “tạm xuất, tái nhập” là “tạm xuất” đi kèm với “tái nhập”. Kết quả là chỉ có 5 hình thức mua bán hàng hoá quốc tế: xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập – tái xuất, tạm xuất – tái nhập và chuyển khẩu. Lẽ ra hai dấu “,” trong khoản 1 Điều 27 phải thay bằng dấu “-” thì mới đảm bảo diễn đạt chính xác về các hình thức của mua bán hàng hoá quốc tế. Mặt khác, trên thực tế có nhiều hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế mà thương nhân Việt Nam tham gia nhưng không cần có yếu tố xuất khẩu, nhập khẩu như khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 quy định.

Liên quan đến định nghĩa “chuyển khẩu”, Điều 30 Luật thương mại năm 2005 quy định: “Chuyển khẩu hàng hoá là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam”. Ở đây chúng ta hình dung có sự tham gia của ba bên thương nhân, trong đó có một thương nhân có trụ sở thương mại hoặc nơi cư trú ở Việt Nam đứng

ra mua hàng hoá của thương nhân ở nước xuất khẩu bán cho thương nhân ở nước nhập khẩu. Tuy nhiên, Điều 30 Luật thương mại năm 2005 lại không xác định rõ thương nhân có nơi cư trú hoặc trụ sở thương mại tại Việt Nam là người thực hiện việc mua hàng từ một nước hoặc vùng lãnh thổ để bán sang nước khác hoặc vùng lãnh thổ khác ngoài Việt Nam. Nếu một thương nhân quốc tịch Việt Nam có trụ sở hoặc nơi cư trú ở chính tại nước xuất khẩu ngoài Việt Nam tiến hành mua hàng hoá của thương nhân khác cũng ở nước xuất khẩu và bán hàng hoá sang nước nhập khẩu ngoài Việt Nam thì liệu có được coi là “chuyển khẩu” trong khi quan hệ mua bán hàng hoá này không hề có liên quan đến quốc gia thứ ba là Việt Nam? Vấn đề chuyển khẩu chỉ nên đặt ra khi thương nhân Việt Nam hoặc thương nhân nước ngoài có hiện diện thương mại tại Việt Nam đứng ra mua hàng hoá từ nước xuất khẩu để bán cho nước nhập khẩu ngoài Việt Nam. Quy định tại Luật thương mại năm 2005 đã không diễn đạt rõ điều này dẫn đến cách hiểu là bất kì thương nhân nào thực hiện việc mua hàng hoá ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam thì đều được coi là chuyển khẩu.

Hiện nay, Luật thương mại năm 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu).(8)  Trong khi Điều 11 của CISG quy định: “Hợp đồng mua bán không cần phải được kí kết hoặc xác nhận bằng văn bản hay phải tuân thủ một yêu cầu nào khác về hình thức của hợp đồng. Hợp đồng có thể được chứng minh bằng mọi cách, kể cả những lời khai của nhân chứng”. Vì quốc gia thành viên của CISG có thể căn cứ Điều 12 và Điều 96 của CISG để tuyên bố bảo lưu quy định này nên điểm khác biệt về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá giữa Luật thương mại năm 2005 và CISG sẽ không phải là trở ngại đối với Việt Nam khi gia nhập Công ước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có nên bảo lưu quy định về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá khi mà hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế diễn ra rất đa dạng và rất nhiều thoả thuận mua bán hàng hoá được thể hiện bằng hành vi cụ thể.

3.  Một số kiến nghị

Từ những phân tích nêu trên, tác giả xin đưa ra đề xuất như sau:

  • Cần xây dựng, sửa đổi hệ thống khái niệm “mua bán hàng hoá”, “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” của Luật thương mại năm 2005 sao cho tương thích với các quy định của CISG và trên cơ sở định nghĩa “hợp đồng mua bán tài sản” và “quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài” của Bộ luật dân sự Việt Yếu tố “quốc tế” của mua bán hàng hoá và hợp đồng mua bán hàng hoá cần được xác định căn cứ vào điều kiện trụ sở thương mại của các bên tham gia quan hệ mua bán hàng hoá ở các quốc gia khác nhau, thay vì căn cứ vào điều kiện dịch chuyển hàng hoá qua biên giới (xuất khẩu, nhập khẩu) như quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật thương mại năm 2005 như hiện nay.
  • Mua bán hàng hoá quốc tế cần được định nghĩa như  sau:  “Mua  bán  hàng hoá quốc tế là mua bán hàng hoá được thực hiện giữa bên bán và bên mua có trụ sở thương mại ở các quốc gia khác nhau”.

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế cần được định nghĩa như sau: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí giữa các thương nhân có trụ sở thương mại đặt ở các quốc gia khác nhau, theo đó một bên gọi là bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho một bên khác gọi là bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thoả thuận”.

  • Một vấn đề liên quan trực tiếp đến khái niệm “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” là hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế. Như đã phân tích, một quốc gia thành viên CISG có thể tuyên bố bảo lưu Điều 11 của Công ước này. Mặc dù vậy, Việt Nam nên chuẩn bị sửa đổi quy định về hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế sao cho phù hợp với CISG (mà không nhất thiết phải bảo lưu) đồng thời thống nhất với hình thức của các loại hợp đồng khác theo quy định pháp luật Việt Nam. Cụ thể là: “Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản, bằng các hình thức khác có giá trị pháp lí tương đương văn bản (điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu) hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể”. Thuật ngữ “hành vi cụ thể” đã được sử dụng tại Điều 401 của Bộ luật dân sự năm “Hành vi cụ thể” được hiểu là những việc làm thực tế, xác thực, có

thể nhận biết được bằng giác quan hay hình dung được dễ dàng,(9) thể hiện rõ ràng ý chí của một bên về sự thoả thuận với bên còn lại. Ví dụ: Hành vi của một bên giao hàng hoá, nhận thanh toán và một bên nhận hàng hoá, thanh toán mà chưa có thoả thuận bằng văn bản về chất lượng hàng hoá, giá cả, phương thức thanh toán và các điều khoản, điều kiện khác. Nếu hình thức xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế “bằng hành vi cụ thể” được chấp nhận thì Luật thương mại năm 2005 cũng cần bổ sung thêm điều khoản giải thích thế nào là “hành vi cụ thể” trong mua bán hàng hoá quốc tế.

  • Ngoài ra, để đồng bộ với việc sửa đổi khái niệm “mua bán hàng hoá quốc tế” và “hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế” trong Luật thương mại năm 2005 thì một số quy định cụ thể có liên quan đến lĩnh vực này cũng cần được sửa đổi, bổ sung như: giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, các điều khoản cơ bản của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, trách nhiệm pháp lí do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế…

Mua bán hàng hoá quốc tế có nhiều điểm đặc thù nên ngoài những quy định pháp luật được áp dụng chung cho hợp đồng mua bán hàng hoá đã có trong Luật thương mại năm 2005, cần có nhóm các quy phạm riêng biệt để điều chỉnh loại hợp đồng này. Cũng có ý kiến cho rằng việc xây dựng, bổ sung các quy định nêu trên là không thực sự cần thiết vì đã được tồn tại trong CISG. Tuy nhiên, với thực trạng các văn bản pháp luật của Việt Nam về lĩnh vực này còn thiếu, đặc biệt là Luật thương mại năm 2005 chưa chứa đựng những quy phạm pháp luật đủ để tạo ra khung pháp lí cho hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế; do vậy việc nội luật hoá để gia nhập CISG là cần thiết.

Tóm lại, khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế theo pháp luật Việt Nam chưa tương thích với phạm vi áp dụng của CISG sẽ dẫn đến sự thiếu thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế có thương nhân Việt Nam tham gia. Để gia nhập các điều ước quốc tế có liên quan, Việt Nam cần sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một cách đồng bộ các quy phạm tư pháp quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại quốc tế. Khái niệm mua bán hàng hoá quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là một trong những vấn đề cơ bản nhất cần nghiên cứu hoàn thiện để làm cơ sở nội luật hoá các quy định của CISG, bổ sung vào hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế của Việt Nam./.

(1) Công ước của Liên hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế năm 1980 (1980 – United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods)

(2) Tham khảo “Biểu đồ các nước tham gia Công ước Viên”, http://trungtamwto.vn/vandedacbiet/cong- uoc-vien/cac-nuoc-tham-gia-cong-uoc-vien

(3) Theo Điều 388 Bộ luật dân sự năm

(4)Khái niệm hàng hoá đã được nêu tại khoản 2 Điều Xem: Luật thương mại năm 2005.

(5)Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 121 Bộ luật dân sự năm 2005

(6)Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự (Điều 388 Bộ luật dân sự năm 2005).

(7) Theo EP Legal và VCCI, Việt Nam tham gia Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá quốc tế (CISG) Lợi ích và hạn chế, http://www.eple gal.com.vn, tr.

(8).Xem: Khoản 2 Điều 27 và khoản 15 Điều 3 của

Luật thương mại năm 2005.

(9).Xem: Từ điển tiếng Việt, http://www.inform atik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/

(*) Văn phòng luật sư Diệp Nguyễn và cộng sự Đoàn luật sư thành phố Hà Nội

Đỗ Minh Anh

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s