Các trường hợp miễn trách

1. SỰ KIỆN NÀO ĐƯỢC COI LÀ BẤT KHẢ KHÁNG?

Nếu một bên gặp bất khả kháng mà vi phạm hợp đồng đã ký kết thì sẽ được miễn trách nhiệm. Tuy vậy, trên thực tế, đôi khi không dễ xác định một sự kiện có phải là bất khả kháng hay không.

Tranh chấp giữa một công ty Áo (người bán) và một công ty Bulgari (người mua). Người bán kiện người mua ra trọng tài đòi người mua bồi thường thiệt hại do người mua không mở thư tín dụng (L/C). Người mua cho rằng mình không mở thư tín dụng là do gặp bất khả kháng. Hai bên tranh cãi về sự kiện bất khả kháng mà bên mua viện dẫn. Tranh chấp được xét xử tại Trung tâm trọng tài quốc tế Paris, phán quyết số 7197/1992.

Diễn biến tranh chấp

Năm 1990, người bán và người mua ký kết một hợp đồng xuất khẩu hàng hóa theo mẫu. Các bên thỏa thuận thanh toán bằng thư tín dụng mở trước một ngày đã được ấn định và hàng hóa phải được giao theo điều kiện DAF (INCOTERM 1990) tại biên giới Áo – Bungari bốn tuần sau khi mở thư tín dụng.

Người mua không thực hiện nghĩa vụ của mình là mở thư tín dụng trong thời hạn đã được quy định trong hợp đồng và trong cả thời gian được gia hạn thêm bởi người bán. Người bán kiện người mua ra trọng tài, đòi bồi thường các thiệt hại phát sinh do người mua không thực hiện hợp đồng.

Người mua phản bác lại và cho rằng thư tín dụng không được mở là do Chính phủ Bulgari đã ra lệnh đình chỉ thanh toán các khoản nợ nước ngoài. Đây là sự kiện bất khả kháng và vì vậy, người mua được hoàn toàn miễn trách, không phải bồi thường thiệt hại.

Phán quyết của Trọng tài:

Trọng tài cho rằng hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Vienna năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) vì cả Áo và Bungari đều là thành viên của Công ước này.

Trọng tài dẫn chiếu điều 54 CISG, theo đó, người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng, bao gồm các việc áp dụng các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng.

Trọng tài cho rằng việc Chính phủ Bulgari yêu cầu đình chỉ thanh toán các khoản nợ nước ngoài không phải là một trường hợp “bất khả kháng” làm cho người mua không thể mở thư tín dụng được. Theo điều 79 khoản 1 CISG, sự kiện bất khả kháng là một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của các bên, các bên không lường trước được vào lúc ký kết hợp đồng và các bên không tránh được cũng như không khắc phục được các hậu quả của sự kiện này.

Trong tranh chấp trên, việc Chính phủ Bulgari ra lệnh đình chỉ thanh toán các khoản nợ nước ngoài là một sự kiện xảy ra một cách khách quan, ngoài tầm kiểm soát của người mua. Tuy nhiên lệnh đình chỉ đó đã được thông báo vào thời điểm kí kết hợp đồng, vì vậy người mua chắc chắn đã phải tiên liệu được rằng lệnh đình chỉ đó sẽ gây khó khăn cho việc mở thư tín dụng. Như vậy, sự kiện này không phải là “không thể lường trước được”.

Hơn nữa, trên thực tế, người mua không chứng minh được rằng việc không mở được thư tín dụng là hệ quả của lệnh đình chỉ đó.

Với những lập luận đó, trọng tài ra phán quyết sự kiện mà người mua viện dẫn không phải là sự kiện bất khả kháng nên người mua không được miễn trách mà phải bồi thường cho người bán do không thực hiện nghĩa vụ.

Bình luận và bài học kinh nghiệm

Thông thường có thể hiểu sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan mà bên vi phạm không thể kiểm soát được, không thể lường trước được và không thể tránh được, mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép. Sự kiện bất khả kháng có thể là các hiện tượng tự nhiên (bão, lốc, lũ lụt, sấm sét, hạn hán, động đất, sóng thần, núi lửa phun…) hay các sự kiện xã hội (chiến tranh, phá hoại, đình công, lệnh cấm của Chính phủ…) và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, để được công nhận là một sự kiện bất khả kháng thì sự kiện đó phải hội đủ 3 điều kiện: Thứ nhất, đây phải là “sự kiện xảy ra một cách khách quan”, tức là xảy ra mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng. Thứ hai, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được”. Thứ ba, sự việc xảy ra “không thể khắc phục được” mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.

Trong trường hợp tranh chấp ở trên, lỗi của người mua là mặc dù đã biết trước về khó khăn trong vấn đề thanh toán do quy định của Chính phủ, nhưng lại không thông báo một cách rõ ràng với người bán để tìm ra một giải pháp thích hợp cho việc thanh toán. Bài học đối với các bên của hợp đồng là khi gặp sự kiện ngoài ý muốn thì cần nhanh chóng thông báo cho đối tác để tìm cách giải quyết cho phù hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng của sự kiện đó đến việc thực hiện hợp đồng, tránh tình trạng ỷ vào đó là trường hợp bất khả kháng mà không có những hành động cần thiết hợp lý.

Hơn nữa, khi gặp trường hợp bất khả kháng, phải khẩn trương thu thập các chứng từ, chứng cứ để chứng minh sự kiện bất khả kháng cũng như chứng minh sự ảnh hưởng của sự kiện đó đến việc thực hiện các nghĩa vụ của mình theo hợp đồng./.

Ngoài các trường hợp bất khả kháng được ghi nhận chính thức hoặc công nhận một cách phổ biến, một biến động bất ngờ của thị trường ngoài dự đoán khiến việc thực hiện hợp đồng trở nên mất cân bằng và gây thiệt hại cho một bên thì bên đó có được miễn trách nhiệm nếu vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng không? Những nguồn luật nào được áp dụng để giải quyết vấn đề này đối với một hợp đồng mua bán quốc tế điều chỉnh bởi CISG?

2. HỌC THUYẾT VỀ HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ DỰ ĐOÁN ĐƯỢC (THEORY OF IMPRÉVISION)

 Nội dung tranh chấp:

Tranh chấp xảy ra giữa một công ty Pháp (người bán) và một công ty Hà Lan (người mua). Người bán và người mua ký kết với nhau một số hợp đồng mua bán ống thép, trong đó không có điều khoản quy định về điều chỉnh giá. Sau khi ký kết hợp đồng và trước khi giao hàng, giá thép bất ngờ tăng lên 70%. Người bán cố gắng thương lượng một giá bán cao hơn nhưng người mua nhất quyết từ chối và yêu cầu được giao hàng với giá bán đã thống nhất theo hợp đồng được ký kết. Người bán không giao hàng, do đó người mua khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền của Bỉ. Luật áp dụng để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói trên là Công ước Vienna năm 1980 của Liên Hợp Quốc về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG).

Diễn biến xét xử của vụ việc:

Phán quyết của Tòa sơ thẩm ngày 25/1/2005: Tòa sơ thẩm cho rằng người mua ở trong tình thế áp dụng “học thuyết về hoàn cảnh không thể dự đoán được” (theory of imprévision). Tuy nhiên Tòa nhận định rằng CISG không điều chỉnh hoàn cảnh đặt ra bởi học thuyết này, do đó từ chối áp dụng việc xem xét lại giá bán của hợp đồng dựa trên học thuyết nói trên.

Phán quyết của Tòa phúc thẩm:

–          Phán quyết sơ bộ ngày 29/6/2006: Tòa phúc thẩm công nhận người mua ở trong hoàn cảnh của “học thuyết về hoàn cảnh không thể dự đoán được”, tuy nhiên Tòa sơ thẩm từ chối việc xem xét lại giá bán do CISG không điều chỉnh vấn đề này là không chính xác. Bên cạnh đó, Tòa cũng cho rằng Tòa sơ thẩm từ chối áp dụng việc xem xét lại giá bán mà không hề tìm hiểu luật áp dụng dựa trên các quy tắc của tư pháp quốc tế và liệu luật áp dụng đó có loại trừ việc xem xét lại giá bán không.

–          Phán quyết chung thẩm ngày 15/2/2007: Tòa khẳng định CISG không có quy định nào liên quan đến việc điều chỉnh giá trong những trường hợp bất thường không thể dự liệu, tuy nhiên việc điều chỉnh giá cũng không vi phạm các nguyên tắc của CISG.

Tòa xác định luật áp dụng là luật của Pháp dựa vào Điều 7(2) của CISG, từ đó cho phép các bên thương lượng lại hợp đồng xuất phát từ nguyên tắc thiện chí. Việc người bán từ chối giao hàng nếu giá bán không được điều chỉnh hợp lý không vi phạm hợp đồng mà chính người mua đã vi phạm nguyên tắc thiện chí khi từ chối thương lượng lại giá bán.

Phán quyết của Tòa Phá án/Tòa Tối cao ngày 19/6/2009: Tòa Phá án bác bỏ việc áp dụng luật nội địa của Pháp. Tòa nhận định Tòa phúc thẩm đã áp dụng sai Điều 7 của CISG, theo đó khi diễn giải CISG cần đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng Công ước và tôn trọng thiện chí trong thương mại quốc tế. Ngoài ra, những vấn đề liên quan mà không được quy định trong Công ước thì sẽ được giải quyết theo các nguyên tắc chung dựa trên đó Công ước được thiết lập, trong trường hợp không có nguyên tắc phù hợp thì mới giải quyết theo luật áp dụng được xác định theo các nguyên tắc của tư pháp quốc tế.

Từ quy định trên, Tòa Phá án cho rằng trong vụ việc này cần áp dụng các nguyên tắc chung điều chỉnh luật thương mại quốc tế. Cụ thể Tòa viện dẫn đến các Nguyên tắc Hợp đồng thương mại quốc tế của UNIDROIT, theo đó khi một bên trong hợp đồng chịu một sự thay đổi về hoàn cảnh khiến sự cân bằng vị thế giữa các bên bị đảo lộn cơ bản thì bên đó có quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng.

Sự thay đổi về hoàn cảnh nêu trên phải thỏa mãn các điều kiện: (i) không thể dự đoán trước một cách hợp lý tại thời điểm giao kết hợp đồng, (ii) thể hiện rõ ràng về bản chất là làm tăng gánh nặng trong việc thực hiện hợp đồng một cách không cân xứng. Sự thay đổi về hoàn cảnh này cũng được Tòa diễn giải là một trở ngại cho phép một bên trong hợp đồng được miễn trách khi không thể thực hiện nghĩa vụ theo Điều 79(1) của CISG.

Từ đó, Tòa Phá án nhận định giá thép tăng là sự kiện không thể lường trước, là sự thay đổi về hoàn cảnh mà trong đó việc tiếp tục thực hiện hợp đồng với điều kiện hiện tại sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho người bán. Tòa ra phán quyết yêu cầu các bên đàm phán lại hợp đồng trên tinh thần thiện chí.

Ngoài ra, Tòa Phá án cũng cho rằng Tòa phúc thẩm nhận định việc người bán từ chối giao hàng nếu giá bán không được điều chỉnh thì không vi phạm hợp đồng là không phù hợp với nguyên tắc pacta sunt servanda tại Điều 71(1) của CISG.

Bình luận và bài học kinh nghiệm:

Có hai vấn đề cần lưu tâm qua tranh chấp này:

Thứ nhất, phán quyết của Tòa Phá án Bỉ đã thiết lập một nền tảng quan trọng cho việc áp dụng các nguyên tắc của luật thương mại quốc tế đối với những tình huống không được điều chỉnh trực tiếp bởi CISG, cụ thể là các nguyên tắc dựa trên quy định của Nguyên tắc UNIDROIT. Tuy nhiên, phán quyết này cũng chỉ mang tính chất đơn lẻ, một vụ việc tương tự sẽ được giải quyết ra sao trong thực tế phụ thuộc rất nhiều vào các tình tiết khách quan của vụ việc cụ thể đó. Đặc biệt lưu ý là trong hệ thống thông luật, học thuyết về “khó khăn kinh tế” hầu như rất kém phát triển. Ngoại trừ Hoa Kỳ đã chấp nhận học thuyết về “tính không thể thực hiện” và đưa vào Bộ luật Thương mại thống nhất tuy việc áp dụng trong thực tiễn còn rất hạn chế, hệ thống thông luật không ghi nhận việc hủy bỏ hoặc điều chỉnh hợp đồng vì lý do khó khăn khi thực hiện. Các bên cần lưu ý dự liệu nếu có khả năng luật nội địa của một nước thông luật được áp dụng để giải quyết vấn đề này.

Thứ hai, giá thị trường tăng đến mức độ nào thì được coi là làm mất cân xứng địa vị hợp đồng của các bên, dẫn đến thiệt hại cho bên bán và tạo ra hoàn cảnh cho phép đàm phán lại hợp đồng? Một phán quyết trọng tài theo luật Ý cho rằng việc đồng Bảng Anh giảm giá trị 14% là đủ cơ sở để xem xét lại hợp đồng. Bình luận chính thức của Nguyên tắc UNIDROIT gợi ý rằng một thay đổi từ 50% trở lên đối với chi phí hoặc giá trị hợp đồng có thể tạo ra thay đổi “cơ bản” cho phép áp dụng học thuyết về khó khăn khi thực hiện hợp đồng. Một số trường hợp khác cho phép điều chỉnh hợp đồng khi chi phí có thể dự liệu tăng dưới 100%.

Vì vậy, bài học cần rút ra là các bên trong hợp đồng, nhất là bên bán, nên lưu ý xem xét thương lượng một điều khoản cho phép điều chỉnh giá bán của hợp đồng trong trường hợp có biến động đột ngột, không thể lường trước của thị trường, đồng thời quy định rõ các tiêu chí và cơ chế cụ thể để xác định điều chỉnh giá bán.

3.CẢNG GIAO HÀNG BỊ ĐÓNG BĂNG- CÓ PHẢI LÀ BẤT KHẢ KHÁNG?

Diễn biến tranh chấp

Vào ngày 7/2/2002, RMI kí kết hợp đồng bằng văn bản với Forberich, theo đó Forberich đồng ý cung cấp cho RMI 15000-18000 MT đường ray xe lửa Nga. Hàng được vận chuyển từ cảng ở St. Peterburg, Nga. Trong hợp đồng có viết “nhận hàng trước 30/6/2002”. Trong tháng 6/2002, các bên đã đồng ý về việc Forberich xin gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng đến ngày “cuối cùng của năm dương lịch”. Song cho đến hết thời hạn này, Forberich vẫn không giao hàng.

Forberich khẳng định rằng việc họ không thực hiện nghĩa vụ giao hàng theo hợp đồng là có thể chấp nhận được vì cảng St.Peterburg không may bị đóng băng vào ngày 1/12/2002 đã cản trở việc giao hàng. Họ cho rằng đây là “hiện tượng thời tiết bất thường”, đồng thời dẫn lời ông Nikolaev, nhân viên cảng St.Peterburg, nói rõ cảng đã bị đóng băng vào ngày 1-12-2002, hiện tượng này đã không xảy ra kể từ năm 1955, và không ai có thể dự đoán trước được hiện tượng cảng đóng băng sớm như vậy.

Ngược lại, RMI cho rằng “Hiện tượng ấy không bất ngờ đối với bất kì thương gia kinh nghiệm nào (cũng như bất kì sinh viên nghiên cứu địa lí nào)”.  Bên RMI nói thêm rằng, có một chuyến tàu của Forberich rời cảng St.Peterburg vào ngày 20/11/2002, chứng tỏ rằng Forberich cũng hoàn toàn có thể giao hàng cho RMI vào ngày này.

Bên nguyên đơn đã đệ đơn lên tòa sơ thẩm về việc công ty bị đơn vi phạm các điều khoản trong hợp đồng này. Bên bị đơn bào chữa thành công cho mình bằng những lí do bất khả kháng, do vậy được miễn trách. Bên công ty RMI không thỏa mãn với kết quả của phiên sơ thẩm nên đã kháng cáo lại phán quyết của tòa.

Phân tích và quyết định của tòa phúc thẩm

Tòa quyết định áp dụng điều 79 của công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế để giải quyết vụ việc (do Đức và Hoa Kỳ là thành viên của CISG) và các bên đồng ý với điều đó.

Vì chưa có tòa án nào ở Mỹ giải thích hoặc áp dụng điều 79 của công ước Viên, các vụ án có đề cập đến miễn trách trong Bộ luật thương mại thống nhất (UCC) sẽ cung cấp những chỉ dẫn cho việc làm sáng tỏ điều khoản miễn trách của Công ước Viên, bởi lẽ những quy định của UCC về vấn đề này có những điểm tương tự với điều 79 CISG. Trên tinh thần này, trong việc áp dụng điều 79 của công ước Viên, Tòa sẽ sử dụng các án lệ áp dụng khoản 2 điều 615 UCC, theo đó: “Trước khi một nghĩa vụ được miễn trách thì có 3 điều kiện cần được thỏa mãn: (1) Một sự việc ngẫu nhiên bất ngờ xẩy ra; (2) Do sự việc ngẫu nhiên bất ngờ này việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không thể diễn ra; (3) Hợp đồng được giao kết trên cơ sở giả định rằng sự việc ngẫu nhiên bất ngờ này không xẩy ra.”. Điều kiện thứ 3 này tùy thuộc vào việc liệu sự việc nói trên có thể lường trước hay không; “Nếu rủi ro xảy ra sự việc ngẫu nhiên bất ngờ là không thể lường trước được thì người bán không thể bị qui kết gánh chịu rủi ro này. Nếu rủi ro xẩy ra tình huống ngẫu nhiên bất ngờ có thể lường trước được, thì rủi ro này được ngầm hiểu là thuộc về người bán”. RMI cho rằng điều kiện thứ 2 và thứ 3 đã không được thỏa mãn.

Vậy hiện tượng cảng St.Peterburg đóng băng có thỏa mãn những điều kiện về bất khả kháng theo CISG và theo UCC không?

  1. Liệu Cảng bị đóng băng có thể đã cản trở việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng?

Forberich đã chỉ ra được bằng chứng rằng cảng bị đóng băng đã cản trở công ty này thực hiện nghĩa vụ hợp đồng bằng cách chứng minh rằng không có con tàu nào rời cảng St. Petersburg sau ngày 20/11/2002 và cả những tháng sau đó vì cảng bị đóng băng. Việc chuyển hàng từ cảng St. Petersburg đến Mỹ phải mất từ 3-4 tuần, Forberich đã đưa ra bằng chứng rằng công ty này có thể thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn yêu cầu bằng cách thực hiện chuyên chở số đường ray này vào tuần cuối tháng 11 hoặc vào những ngày đầu tiên của tháng 12 (để giao hàng cho FMI chậm nhất ngày 31/12/2002) nhưng việc cảng bị đóng băng đã cản trở họ thực hiện điều này.

RMI không đưa ra được bằng chứng nào về việc có thể thực hiện nghĩa vụ hợp đồng (không có bằng chứng về một con tàu nào rời cảng St.Peterburg sau ngày 20/11/2002).

  1. Khả năng lường trước được

Forberich đã đưa ra bằng chứng rằng sự khắc nghiệt của mùa đông năm 2002 và sự đóng băng sớm tại cảng và những hậu quả của nó khác xa so với những gì thường xảy ra (thông thường cảng chỉ bị đóng băng từ cuối tháng 1), thậm chí làm cho máy phá băng ngừng hoạt động.

RMI cho rằng sự đóng băng sớm này là có thể dự đoán được, song lại không đưa ra được một bằng chứng hoặc một ý kiến thuyết phục nào khác.

Thêm vào đó, tòa cho rằng việc dẫn chiếu đến một án lệ về bất khả kháng do đóng băng ở thượng nguồn sông Mississippi là thuyết phục (xem: Louis Dreyf Corp. v. Continental Grain Co., 395 So.2d 442, 450 (La.Ct.App.1981)).

Dựa vào những lí do trên, kháng cáo của nguyên đơn về phán quyết sơ thẩm bị bác bỏ.

Bình luận và lưu ý

Trong trường hợp trên, Forberich đã được hưởng miễn trách nhờ vận dụng thành công điều 79 CISG quy định về miễn trách khi gặp bất khả kháng: “Một bên không chịu trách nhiệm về việc nếu không thực hiện được bất kì một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lí rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc kí kết hơp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục được các hậu quả của nó.” Thông thường khi áp dụng Công ước Viên, người ta thường suy ra trực tiếp từ quy định này 3 đặc điểm cần thiết để được công nhận là một sự kiện bất khả kháng, bao gồm: Thứ nhất, đây phải là “sự kiện xảy ra khách quan”, tức là xảy ra mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên trong hợp đồng; Thứ hai, đây phải là sự kiện “không thể lường trước được”; Thứ ba, sự việc xảy ra “không thể khắc phục được” mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết.

Tuy nhiên, tòa án Mỹ không áp dụng trực tiếp điều 79 CISG hay sử dụng những án lệ đã áp dụng điều 79 CISG tại các quốc gia thành viên khác mà lại sử dụng các án lệ áp dụng quy định tương tự trong UCC như một sự hướng dẫn áp dụng miễn trách khi có bất khả kháng. Về cơ bản, quy định này của UCC tương tự với công ước Viên. Tuy nhiên, khi áp dụng cách diễn giải của UCC, điều kiện số 2 để được miễn trách “Do sự việc bất khả kháng này, việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng không thể diễn ra” dường như không “chặt chẽ” như điều kiện “không thể khắc phục được” của CISG. Trong vụ việc này, Forberich không được yêu cầu phải làm rõ đích xác xem họ đã làm gì để khắc phục việc cảng bị đóng băng, và những nỗ lực của họ liệu đã đủ về mức độ hay chưa, ví dụ như việc xem xét liệu có thể có một cảng thay thế khác hay không (đặc điểm về tính “không thể khắc phục được” theo quy định tại điều 79 CISG). Đây chính là một điểm cần lưu ý khi xét đến thực tiễn áp dụng Công ước Viên trong quá trình xét xử của các tòa án Mỹ./.

 

5 thoughts on “Các trường hợp miễn trách

  1. Xin chào chủ nhân của Blog! Em đã xem nhiều bài phân tích từ trang này và mình cảm thấy thích thú về những nghiên cứu đã được chia sẻ. Nhân đây, em có thể nhờ chủ Blog chỉ thêm cho em biết về những bản án liên quan đến các trường hợp miễn trách này được hay không? Em đã biết trang dữ liệu của các bản án liên quan đến vấn đề này, nhưng do trình độ ngoại ngữ hạn chế nên không hiểu hết được. Trên cơ sở chia sẻ và trao đổi, mong được sự chỉ dẫn từ Chủ blog! Xin cám ơn!

    • Hi bạn Nguyên,

      Rất vui vì bạn quan tâm đến vấn đề này. Chúng tôi sẽ tóm tắt các án lệ mới liên quan đến vấn đề miễn trách để các bạn cùng tham khảo trong thời gian sớm nhất.

      Thân ái,
      Mod

      • Xin cám ơn sự nhiệt tình từ cisgvn, hy vọng được cùng chia sẽ để việc tìm hiểu CISG ngày càng phát triển hơn ở VN!
        Mến.

  2. Thân chào các đọc giả,

    Mod vừa bổ sung thêm 1 án lệ mới về bất khả kháng, rất mong nhận được sự ủng hộ đóng góp ý kiến nhiệt tình của các bạn.

    Thân ái,
    Mod

  3. xin chào ạ! mình đang nghiên cứu về miễn trách do hành vi của người thứ ba theo khoản 2 ĐIều 79 CISG, mod có thể cung cấp 1 vài án lệ được không ạ?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s