Hình thành HĐ mua bán hàng hóa

1. Filanto case (tranh chấp về mẫu hợp đồng và điều khoản trọng tài)

Filanto S.p.A. v. Chilewich International Corp. (1992) 91 Civ. 3253 (CLB) U.S. District Court, S.D., New York.

Trong nhiều trường hợp khi các bên mua bán hàng hóa trao đổi qua lại rất nhiều đề nghị (offer) – đối nghị (counter-offer) bằng cả miệng và văn bản, việc xác định đề nghị nào sẽ có giá trị ràng buộc đối với các bên là hết sức khó khăn, đặc biệt là khi một hay hai bên đã tiến hành thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng. Tranh chấp giữa bên bán (nguyên đơn) là một công ty của Ý với bên mua (bị đơn) là một công ty ở New York, Mỹ. Nội dung tranh chấp về mẫu hợp đồng, trong đó điều khoản trọng tài sẽ áp dụng theo thư đề nghị của bên nào. Các điều 7(1) and 7(2); 8(3); 11; 18; 19 ; 81(1) của CISG đã được tòa viện dẫn.

Diễn biến tranh chấp

Bên mua gửi một đơn đặt hàng đến bên bán của Ý về việc mua 100.000 đôi giày/ủng tại biên giới Ý/Yugoslav tuân theo một mẫu hợp đồng khung về các điều khoản, trong đó có điều khoản về trọng tài xử tại Mat-xcơ-va. Ngoài ra, theo đơn hàng này bên mua phải mở Thư tín dụng cho bên bán trước mỗi đợt giao hàng. Bên bán chấp nhận đơn đặt hàng này bằng một thư xác nhận, tuy nhiên có thông báo loại trừ điều khoản về trọng tài (trước tòa bên mua tuyên bố không hề nhận được thông báo này). Chỉ khoảng 5 tháng sau khi nhận được đơn đặt hàng, bên mua mới nhận được một văn bản khác của bên bán nêu rõ không chấp nhận áp dụng điều khoản trọng tài. Trong thời gian đó các bên đàm phán bằng miệng nhiều lần về điều khoản trọng tài, đồng thời các bên bắt đầu thực hiện hợp đồng trước khi đạt được thỏa thuận về điều khoản này. Bên mua đã mở Thư tín dụng đầu tiên cho người thụ hưởng là bên bán, và bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa theo thỏa thuận. Sau đó bên mua khiếu nại bên bán về lỗi hợp đồng (hàng hóa có lỗi) và yêu cầu phân xử trọng tài tại Matx-cơ-va theo mẫu hợp đồng khung ban đầu.

Quyết định của toà án

Tòa án cho rằng, tại thời điểm hợp đồng xác lập các bên tham gia hợp đồng có trụ sở tại Mỹ và Ý, vì vậy hợp đồng thuộc sự điều chỉnh của Công ước Viên (CISG). Tòa đã xem xét các giao dịch trước đó của các bên và cho rằng từ rất nhiều giao dịch theo thông lệ của hai bên từ trước, bên bán có trách nhiệm phải cảnh báo bên mua kịp thời về việc mình không đồng ý áp dụng điều khoản trọng tài, trách nhiệm này còn cao hơn khi bên bán biết rằng bên mua đã mở Thư tín dụng cho người thụ hưởng là bên bán. Tòa không chấp nhận lập luận bên bán cho rằng thư trả lời của bên bán từ chối áp dụng điều khoản trọng tài đã tạo thành một đối nghị (Điều 19.3 CISG), vì thư này được gửi quá trễ (sau 5 tháng kể từ khi bên bán nhận được đơn hàng của bên mua). Từ đó tòa cũng cho rằng bên mua không hề ngầm định đồng ý với đề nghị triệt hạ đề nghị cũ của bên bán. Ngược lại, việc bên bán đã vận chuyển một phần hàng hóa, cũng như sau đó vẫn tiếp tục dựa vào mẫu hợp đồng khung cho thấy bên bán đã chấp nhận đề nghị của bên mua thông qua hành động (Điều 18.1; 8.3 CISG). Cuối cùng, tòa kết luận hợp đồng đã được hình thành trên cơ sở đơn hàng ban đầu do bên mua gửi (bao gồm cả điều khoản trọng tài tại Matx-cơ-va) và được chấp nhận bởi bên bán.

Bài học kinh nghiệm

Thứ nhất: khi xem xét những trao đổi của các bên về mẫu hợp đồng, trọng tài và tòa án có toàn quyền diễn giải CISG một cách linh hoạt (ví dụ như thời gian trả lời đề nghị bao lâu là hợp lý, cân nhắc tiền lệ giao dịch của các bên để áp đặt trách nhiệm cảnh báo của bên bán, chấp nhận thông tin văn bản hay bằng miệng) để xác định thời điểm hợp đồng được hình thành cũng như đề nghị của bên nào mang giá trị ràng buộc. Vì vậy, khi đề nghị/chào giá của một bên đối tác không có thời hạn hiệu lực cụ thể, doanh nghiệp nên trả lời chấp thuận hoặc đề nghị triệt hạ đề nghị cũ bằng văn bản trong thời gian sớm nhất có thể, với những tuyên bố rõ ràng về điểm khác trong đề nghị mới của mình. Đồng thời cần tránh thực hiện hợp đồng trước khi đạt được những thỏa thuận rõ ràng của các bên về những vấn đề quan trọng như điều khoản trọng tài.

Thứ hai: theo Điều 15.1 CISG một đề nghị chỉ được coi là có hiệu lực khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó (khác với luật Việt Nam, một đề nghị có thể có hiệu lực theo ấn định của bên đề nghị). Vì vậy để đảm bảo đề nghị của mình có hiệu lực, doanh nghiệp cần kiểm tra kỹ để có xác nhận của đối tác là đã nhận được văn bản hay chưa, tránh việc đối tác chối cãi hiệu lực đề nghị của mình.

2. Chấp nhận chào hàng bằng hành vi

Khi nhận được đơn chào hàng của đối tác nước ngoài, doanh nghiệp có thể chấp nhận bằng văn bản, bằng lời nói. Thậm chí, bằng việc thực hiện một số hành vi nhất định, người được chào hàng sẽ bị coi là đã chấp nhận chào hàng và bị ràng buộc bởi chào hàng đó.

Tranh chấp giữa Nguyên đơn là một công ty của Achentina và Bị đơn là một công ty của Italia trong quá trình giao kết hợp đồng. Hai bên tranh cãi về việc liệu hành vi của Bị đơn có được coi là một hành vi chấp nhận chào hàng có hiệu lực hay không. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Achentina. Các điều 18 và 19 của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Achentina đàm phán ký hợp đồng với người bán Italia để mua một số máy móc công nghiệp. Người bán đã gửi cho người mua bản chào hàng căn cứ trên một mẫu đơn chào hàng chuẩn. Người mua không có ý kiến gì về nội dung của chào hàng trên ngoài việc yêu cầu thay đổi lại kích cỡ của một số phụ tùng kèm theo. Sau đó, người mua đã ký vào đơn chào hàng và gửi đơn chào hàng đó đến một ngân hàng để xin cấp tín dụng cho thương vụ này.

Tuy nhiên, sau đó, người mua lại làm đơn kiện người bán ra toà án Achentina với lý do là hợp đồng chưa được thành lập. Người mua cho rằng chào hàng và chấp nhận chào hàng chưa cấu thành một hợp đồng có hiệu lực. Người mua dẫn điều 18 CISG, theo đó, im lặng hay không hành động (inaction) không được coi là chấp nhận chào hàng.

Phân tích và quyết định của Toà án

Vì Achentina và Italia là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Toà án bình luận rằng theo điều 18 CISG thì im lặng hay không hành động (inaction) tự nó không cấu thành chấp nhận chào hàng. Trường hợp này, mặc dù người mua không chính thức trả lời người bán bằng văn bản hay bằng lời nói nhưng người mua đã ký vào đơn chào hàng và gửi nó đến ngân hàng; đây chính là hành động mà người mua thực hiện liên quan đến thanh toán tiền hàng, và hành vi này có ý nghĩa là đã chấp nhận chào hàng theo quy định tại điều 18 khoản 1- CISG.

Ngoài ra, người mua có một số thay đổi về kích cỡ của một số phụ tùng kèm theo nhưng những thay đổi này không được coi là những sửa đổi, bổ sung cơ bản chào hàng ban đầu và vì thế không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của chấp nhận chào hàng theo quy định tại điều 19 khoản 2 và khoản 3- CISG. Chỉ các yếu tố bổ sung hay thay đổi liên quan đến các điều khoản giá cả, thanh toán, phẩm chất, số lượng, địa điểm & thời gian giao hàng, phạm vi trách nhiệm các bên, việc giải quyết các tranh chấp mới được coi là thay đổi cơ bản nội dung của chào hàng.

Với những lập luận đó, tòa án cho rằng người mua đã chấp nhận chào hàng của người bán Italia. Toà án kết luận hợp đồng đã được thành lập và không thể bị bác bỏ.

Bài học kinh nghiệm

Thứ nhất, theo quy định của điều 18-CISG, im lặng và không có hành động gì (inaction) thì không được coi là chấp nhận chào hàng. Tuy vậy, việc thực hiện một số hành vi lại được coi là chấp nhận chào hàng, ví dụ như hành vi liên quan đến việc gửi hàng, mở thư tín dụng hay trả tiền chẳng hạn, dù người chấp nhận không thông báo cho người chào hàng. Trong thực tiễn kinh doanh quốc tế, trường hợp chấp nhận như vậy rất hay xảy ra, nhất là giữa các bên đã có mối quan hệ làm ăn từ trước. Tuy vậy, pháp luật về hợp đồng của Việt Nam lại không có quy định gì về vấn đề này. Vì thế, khi chấp nhận chào hàng, nên chấp nhận bằng văn bản, trong đó nêu rõ những nội dung chấp nhận và những đề xuất chỉnh sửa nếu có, tránh trường hợp chấp nhận bằng hành vi vì có thể gây ra những tranh chấp như vụ việc vừa phân tích.

Thứ hai, khi nhận được chào hàng, nếu có những ý kiến trái với chào hàng thì cần xem xét và đưa ra các đề nghị sửa đổi kịp thời, đầy đủ. Sau khi gửi chấp nhận chào hàng (trong đó có một số sửa đổi, bổ sung chào hàng ban đầu) thì nên yêu cầu bên chào hàng khẳng định lại (confirm) một lần nữa có đồng ý với những sửa đổi, bổ sung đó hay không. Như vậy sẽ tránh được những tranh chấp khi hai bên đàm phán giao kết hợp đồng một cách gián tiếp thông qua việc gửi các đơn chào hàng và chấp nhận chào hàng./.

3. Sửa chữa chào hàng và những rủi ro

Khi nhận được chào hàng của người bán, nếu người mua có những thay đổi, bổ sung thì đó không được coi là chấp nhận chào hàng. Tuy vậy, nếu những sửa đổi, bổ sung đó không biến đổi một cách cơ bản chào hàng ban đầu, thì một hợp đồng được coi là đã được thiết lập giữa hai bên.

 

Diễn biến tranh chấp

– 05/06/2000, người bán chào hàng 10.000 MT hạt cải dầu với tiêu chuẩn trên 38% protein, độ ẩm dưới 12,5%. Giá là $ 78/MT, FOB, Zhang Jia Gang, China.

– 07/06/2000, người mua nhận được thư chào hàng và đề nghị người bán fax hợp đồng và các điều kiện L/C cho người mua. Ngày 09/06, người bán fax hợp đồng số SF0610, có đóng dấu.

Bên mua nhận được, nhưng xóa “không chấp nhận thuê tàu hơn 20 tuổi” và sửa “cước phí trả trước” thành “cước phí sẽ được trả theo hợp đồng thuê tàu” trong bản hợp đồng gốc, sau đó ký, đóng dấu và fax cho người bán.

Vào ngày 14/06, người bán đã fax cho văn phòng đại diện của người mua ở Hong Kong, thể hiện rằng với lý do người mua đã tự ý sửa đổi hợp đồng, người bán không thể xác nhận hợp đồng này. Ngày 22/06, người bán gửi thư cho người mua nói rằng hợp đồng không có hiệu lực và L/C người mua mở đã không còn giá trị.

Cùng lúc đó, bên mua cũng trả lời bên bán, giải thích rằng bởi vì điều kiện giao hàng trong hợp đồng là FOB, việc sửa lại tuổi tàu và việc trả cước phí sẽ không ảnh hưởng gì đến việc thực hiện hợp đồng. Người mua đã cho người bán biết việc họ đã đồng ý bán hàng 7000 MT hàng (trong số 10.000 MT theo hợp đồng) cho một khách hàng Italy, Người mua cũng khuyến cáo người bán rằng nếu người bán từ chối thực hiện việc giao hàng thì nghĩa là đã vi phạm hợp đồng. Trong thư, người mua đã yêu cầu người bán xác nhận hợp đồng và thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng.

Ngày 23/06, người bán trả lời khăng khăng cho rằng hợp đồng đã vô hiệu, những điều khoản về tuổi tàu và cước phí ảnh hưởng đến việc bốc dỡ của người bán. Người bán vẫn cho rằng vì hợp đồng đã không còn giá trị nên mọi trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý theo hợp đồng không còn ràng buộc hai bên.

Vì người bán từ chối thực hiện nghĩa vụ giao hàng, nên để thực hiện nghĩa vụ với khách hàng Italy, người mua phải mua hàng thay thế với giá cao hơn (là $98.5/1MT) từ công ty C, Singapore. Như vậy, người mua phải trả thêm $150,675 so với hợp đồng với người bán.

Tranh chấp giữa 2 bên sau khi không giải quyết được bằng hòa giải thì bên mua đã đệ đơn kiện lên CIETAC ngày 23/07/2001.

Lập luận của Nguyên đơn

Theo quan điểm của người mua thì hai bên đã có hợp đồng thông qua việc chào hàng và chấp nhận chào hàng. Người mua đã liên lạc với người bán yêu cầu người bán thực hiện hợp đồng nhưng người bán vẫn không thực hiện.

Trong tình huống đó, bên mua đã có những thiện chí để giải quyết hậu quả một cách hợp lý bằng việc mua hàng thay thế (bên mua đã thông báo với bên bán về giải pháp này). Chất lượng của hàng thay thế giống với trong hợp đồng, đồng thời giá thấp hơn giá của hàng hóa đó trên thị trường quốc tế; những giải pháp bên mua thực hiện vì vậy rất hợp lý.

Bên mua yêu cầu trọng tài đưa ra những quyết định sau:

  • Người bán trả cho người mua US$150,675 tiền thiệt hại từ việc mua hàng thay thế;
  • Người bán trả tổn thất về lãi suất là US$10,547.25 (lãi suất tính theo năm là 7%).
  • Người bán phải trả chi phí trọng tài và phí luật sư của bên người mua trong vụ kiện này.

Phân tích và quyết định của trọng tài

Vì cả Thụy Điển và Trung Quốc đều là thành viên của Công ước Viên 1980 nên hội đồng trọng tài đã dựa vào nguồn luật này để xét xử tranh chấp.

– Phúc đáp chào hàng có thay đổi về điều khoản liên quan đến tuổi tàu và thanh toán cước phí thuê tàu trên cơ sở điều kiện giao hàng FOB có được xem là chấp nhận chào hàng hay không?

Rõ ràng ở đây có sự bất đồng quan điểm giữa người bán và người mua về việc lúc nào thì một phúc đáp chào hàng được xem là một chấp nhận chào hàng. Người mua cho rằng những thay đổi trong nội dung phúc đáp chào hàng của anh ta không ảnh hưởng đến nội dung cơ bản của chào hàng; nhưng người bán thì cho rằng đó là mấu chốt để kết luận hợp đồng chưa được hình thành. Theo điều 19 CISG:

  • khoản 2: “…một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng. Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng.”
  • khoản 3: “Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến sự giải quyết tranh chấp được coi là những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng.

Xét thấy hai thay đổi trong phúc đáp chào hàng của người mua, bao gồm xóa “không chấp nhận thuê tàu hơn 20 tuổi” và sửa “cước phí trả trước” thành “cước phí sẽ được trả theo hợp đồng thuê tàu” trong bản hợp đồng gốc, không thuộc các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan mà làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng như đã nói ở trên. Theo điều kiện giao hàng trong hợp đồng là FOB, Incoterms 2000, những thay đổi của người mua về độ tuổi của tàu và việc thanh toán cước phí không làm thay đổi cơ bản nội dung của thư chào hàng, không làm tăng trách nhiệm của người bán. Bên cạnh đó, người bán chậm trễ trong việc thông báo từ chối của mình trước thay đổi trong phúc đáp của người mua. Theo khoản 2 điều 19 CISG, sự từ chối của người bán trước thay đổi trong phúc đáp của người mua phải được thực hiện “ngay lập tức”. Chính vì vậy, người bán trong trường hợp này đã coi như là chấp nhận những thay đổi đó.

Dựa trên thực tế và theo những điều khoản trong Công ước Viên, hội đồng trọng tài quyết định Hợp đồng số SF0610 có hiệu lực đối với cả bên bán và bên mua.

– Quyền của bên bị vi phạm được tiến hành giao dịch thay thế và được hưởng chênh lệch giữa giá của hợp đồng và giá của hàng thay thế

Bằng việc ra phán quyết hợp đồng đã được hình thành trong trường hợp này, hội đồng trọng tài cho rằng người mua được quyền đòi bồi thường thiệt hại. Vì người mua đã phải mua hàng thay thế nên thiệt hại ở đây được tính toán dựa trên điều 75 CISG: “…bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thay thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74”.

Theo những bằng chứng mà người mua cung cấp, tòa án trọng tài tìm ra rằng bên mua đã mua 7350 tấn hàng hóa thay thế, do đó bên bán cần phải trả khoản chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua hàng hóa thay thế , với số tiền bằng : (US $98.50/tấn – US $78.00/tấn) * 7,350 tấn  = US $150,675.00.

– Quyền được hưởng lãi suất

Ngoài số tiền chênh lệch mà người mua được hưởng do phải tiến hành giao dịch thay thế ở trên, hội đồng trọng tài cũng tính thêm phần lãi suất người mua bị mất đi do không thực hiện được hợp đồng. Số tiền lãi này được tính toán dựa trên điều 78 CISG “Nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền trả chậm đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo điều 74”.

Tuy nhiên, hội đồng trọng tài nhận thấy mức lãi suất do người mua đưa ra là quá cao, và thời hạn tính lãi quá dài, trong khi những bằng chứng không hỗ trợ tất cả các khiếu nại của người mua về số tiền lãi. Tòa án Trọng tài cho rằng việc người bán phải trả khoản lãi hàng năm với mức lãi suất 3% là hoàn toàn hợp lý.

– Phí luật sư:

Hội đồng trọng tài không hỗ trợ yêu cầu bồi thường cho người mua lệ phí luật sư, bởi vì người mua đã không trình chứng cứ liên quan đến vấn đề này.

– Phí trọng tài

Hội đồng trọng tài cho rằng người bán phải nộp 90% lệ phí trọng tài, và người mua phải nộp 10% còn lại.

Bình luận và lưu ý:

– Về chấp nhận chào hàng

Theo thông lệ trong hoạt động mua bán hàng hóa, một hợp đồng được xem là hình thành khi có một chào hàng từ người bán và chấp nhận chào hàng từ người mua. Tuy nhiên, cách qui định về chấp nhận chào hàng ở những nguồn luật khác nhau là khác nhau. CISG có những quy định rất chi tiết về chấp nhận chào hàng, theo đó, trong một số trường hợp, những thay đổi, bổ sung trong chấp nhận sẽ được xem là từ chối chào hàng và cấu thành chào hàng mới; nhưng nếu những thay đổi bổ sung không làm thay đổi cơ bản chào hàng ban đầu thì một hợp đồng vẫn được coi là được thiết lập. Cách qui định này có điểm khác với luật Việt Nam. Điều 396 Bộ luật dân sự năm 2005 yêu cầu chấp nhận chào hàng là phải chấp nhận toàn bộ nội dung của chào hàng và bất kỳ sửa đổi bổ sung nào cũng là từ chối chào hàng; trong khi đó Công ước Viên cho phép những thay đổi trong chấp nhận chào hàng mà không làm thay đổi nội dung cơ bản của chào hàng ban đầu thì không ảnh hưởng đến việc hình thành hợp đồng.       Quy định này của CISG, áp dụng trong tranh chấp nói trên là hoàn toàn phù hợp, qua đó, chúng ta thấy được tính linh hoạt của Công ước Viên trong việc điều chỉnh các vấn đề liên quan đến hợp đồng mua bán hàng hóa.

Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Kết quả của tranh chấp là sự thất bại của người bán Trung Quốc, và số tiền bồi thường thiệt hại cho người mua lên đến hàng nghìn đô la. Tổn thất này đến từ sự thiếu hiểu biết của doanh nghiệp Trung Quốc khi tham gia vào sân chơi thương mại quốc tế. Mặc dù Trung Quốc đã gia nhập Công ước viên nhưng rõ ràng là người bán Trung Quốc không nắm được nội dung Công ước nên đã có những ứng xử không phù hợp với các quy định mà Công ước nêu ra.

Từ bài học của doanh nghiệp Trung Quốc trong vụ tranh chấp này, các doanh nghiệp Việt Nam cần ý thức được rằng, khi tham gia kí kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thì vấn đề tìm hiểu về mặt pháp lý là cực kì quan trọng. Hợp đồng mua bán hàng hóa có liên quan đến yếu tố nước ngoài thường phức tạp hơn trong vấn đề nguồn luật điều chỉnh nên các doanh nghiệp cần phải biết hợp đồng của mình sẽ chịu sự điều chỉnh của những nguồn luật nào: luật quốc tế hay luật quốc gia của nước bạn hàng, và nguồn luật nào sẽ được ưu tiên áp dụng để có sự chuẩn bị tốt nhất. Vấn đề càng phức tạp hơn khi có điểm khác biệt giữa luật quốc gia và nguồn luật khác được lựa chọn áp dung, ví như trong tranh chấp này có sự khác biệt giữa chấp nhận chào hàng theo Công ước Viên và theo luật Việt Nam. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể đã quen với cách qui định của Bộ luật dân sự Việt Nam và có nguy cơ gặp rủi ro nếu áp đặt cách qui định đó cho hợp đồng mua bán quốc tế. Nói cách khác, tìm hiểu luật và chơi theo luật là cách tốt nhất để các doanh nghiệp tự bảo vệ lợi ích của mình trong hoạt động ngoại thương ngày càng diễn ra mạnh mẽ như hiện nay./.

8 thoughts on “Hình thành HĐ mua bán hàng hóa

  1. Có một lời đề nghị giao kết được gửi từ cty Nhật tới Cty Việt Nam với mặt hàng X, Số lượng Y và giá Z, thời hạn trả lời ngày T. Trong thời hạn trả lời, cty VN gửi Fax chấp nhận và thêm điều kiện giao hàng CIF Hải Phòng. Vậy điều kiện thêm này có được coi là đề nghị bổ sung làm biến đổi cơ bản nội dung của chào hàng theo công ước viên 1980?

  2. Hi Ha_Trang,

    Điều kiện giao hàng là một trong những điều khoản cơ bản trong nội dung chào hàng. Vì vậy nếu lời đề nghị giao kết ban đầu quy định điều kiện giao hàng khác CIF, Cty VN thay đổi điều kiện này thì thay đổi đó đã làm biến đổi cơ bản nội dung chào hàng ban đầu.

    Mod

  3. Xin trích dẫn lại một trường hợp đặt ra của bạn Ha_Trang như sau:

    Qua lời giới thiệu của một đối tác, công ty TNHH A của Hàn Quốc biết được rằng công ty cổ phần B của Việt Nam đang cần mua màn hình LCD của Sam sung. Ngày 15/3/2009 công ty TNHH A (Hàn Quốc) gửi đề nghị giao kết hợp đồng đến công ty cổ phần B (Việt Nam) để chào bán 100 màn hình LCD Samsung với giá X, thời hạn trả lời cuối cùng là ngày 31/3/2009 (đến hết 5h chiều giờ Hàn quốc). Theo đề nghị, nếu B đồng ý, A sẽ giao hàng cho B trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nhận được chấp nhận đề nghị của B. Ngày 28/3/2009, công ty B đã fax trả lời A với nội dung đồng ý mua 100 màn hình LCD nói trên và thêm rằng A sẽ giao hàng cho B theo điều kiện CIF Hải Phòng Incoterms 2000. Nhận được fax của B, A không trả lời. Đến 3h30 chiều ngày 31/3, B quyết định không mua hàng nữa do giá LCD trên thị trường giảm xuống đột ngột, liền fax sang cho A.
    Giả sử đến ngày 5/4, B nhận được thông báo của A theo đó A sẽ giao hàng cho bên chuyên chở vào ngày 15/4, và hàng sẽ đến cảng Hải phòng vào ngày 25/4. Sau khi nhận được thông báo của A, B đã fax lại và khẳng định rằng B từ chối mua hàng của A. A vẫn cứ tiến hành giao hàng cho B và đề nghị B thanh toán. B không nhận hàng và từ chối thanh toán.
    Vậy hợp đồng giữa A và B đã hình thành chưa nếu áp dụng Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế. A và/hoặc B có vi phạm hợp đồng nếu có không? Giả sử B gửi đơn kiện lên Tòa kinh tế Tòa án Thành phố Hà nơi B có trụ sở, Tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này không, biết rằng giữa A và B không có thỏa thuận trọng tài.

    Trả lời:

    – Theo Điều 19 CƯ Viên thì một phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác làm biến đổi cơ bản nội dung chào giá (bao gồm địa điểm và thời hạn giao hàng, thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một đề nghị giao kết đối ứng (counter-offer). Vì vậy việc B đồng ý nhưng bổ sung điều kiện giao hàng CIF Hải Phòng có giá trị như một đề nghị giao kết đối ứng của B.

    – Theo Điều 18 CƯ Viên thì im lặng không có nghĩa là đồng ý. Vì vậy, việc A không trả lời fax ngày 28/3/2009 của B và cũng không có bất kỳ hành động nào cho đến ngày 31/3/2009 chứng tỏ chưa có sự chấp thuận của A đối với đề nghị giao kết đối ứng của B.

    – Theo Điều 16.1 CƯ Viên thì chào giá có thể được thu hồi lại nếu thông báo thu hồi được gửi đến người nhận chào giá trước khi người đó gửi văn bản chấp thuận chào giá đi. Như vậy, việc B gửi fax đến A trước khi B gửi chấp thuận với đề nghị giao kết đối ứng của A có thể coi là việc thu hồi đề nghị một cách hợp pháp, khiến đề nghị giao kết ngày 28/3/2009 không còn giá trị.

    Kết luận: hợp đồng chưa hình thành.

    Ngoài ra, CƯ Viên không có quy định về phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng. Vì vậy việc B khởi kiện A sẽ áp dụng theo thỏa thuận của các bên. Nếu các bên không có thỏa thuận thì B có thể khởi kiện lên TAND có thẩm quyền trên cơ sở quy định của Bộ luật TTDS 2004 (theo Điều 33.3 BLTTDS thì các vụ kiện có đương sự ở nước ngoài thì không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện (bao gồm thành phố thuộc tỉnh), vì vậy B cần phải kiện tại TAND tỉnh hoặc thành phố trực thuộc trung ương, tức TAND cấp tỉnh).

    Thân mến,
    Mod

  4. Bạn hiểu sai về áp dụng các điều khoản trong TH này rồi, trường hợp này là trường hợp mà đề ra để đánh lạc hướng người làm và thiếu các dữ kiện cho việc áp dụng nên phải suy luận và đặt giả định:

    Ngày 28/3/2009, ” công ty B đã fax trả lời A với nội dung đồng ý mua 100 màn hình LCD nói trên và thêm rằng A sẽ giao hàng cho B theo điều kiện CIF Hải Phòng Incoterms 2000″ theo 19.1 thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một hoàn giá. ở đây chào hàng cũ đã hết hiệu lực cùng với thời hạn của nó. Chào hàng mới được hình thành ” bài không nói rõ thời hạn”…

    Đến 3h30 chiều ngày 31/3, B quyết định không mua hàng nữa. B gởi fax yêu cầu hủy bỏ – xin nhấn mạnh là lúc này chỉ còn quyền được hủy Điều 16 cư.

    Vấn đề mà tình huống này đặt ra là Yêu cầu hủy đó có hợp pháp? đây chính là yếu tố quan trọng để xác định sự tồn tại của hợp đồng.

    Xét yêu cầu hủy theo 16.1 thì yêu cầu hủy chỉ được chấp nhận khi yêu cầu đó tới được người chào hàng trước khi người này gởi thông báo chấp nhận. NẾU XÉT TỚI ĐÂY BẠN SẼ NÓI NGAY LÀ HỢP ĐỒNG CHƯA TỒN TẠI VÀ YÊU CẦU HỦY LÀ HỢP PHÁP – NHƯNG ĐIỀU KHOẢN CÓ NGOẠI LỆ và chấp nhận chào hàng có thể được thể hiện dưới các dạng khác nhau.
    chào hàng không thể bị hủy vì các yếu tố sau: Điều 16. cis
    a. Nếu nó chỉ rõ, bằng cách ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay bằng cách khác, rằng nó không thể bị hủy, hoặc
    b. Nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng là không thể thu hồi được và đã hành động theo chiều hướng đó.
    c. Khi người chào hàng đã chấp nhận chào hàng trước khi yêu cầu hủy được gởi tới.

    Hơn nữa sự chấp nhận chào hàng theo điều 18 ” Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng. Sự im lặng hoặc bất hợp tác vì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận. ”

    Hành vi khác biểu lộ sự đồng ý với chào hàng; ” đã có nhiều tranh chấp về vấn đề này”
    ở đây doanh nghiệp B có thể đã đồng ý với yêu cầu của B và tiến hành làm các thủ tục; kiểm định đóng gói, mua bảo hiểm, thuê tàu…. Đây đều có thể là hành vi biểu lộ sự đồng ý với chào hàng mà hành vi này có thể có trước yêu cầu hủy bỏ hợp đồng. 31/3

    Như vậy tính đúng sai của các bên chỉ có thể dựa vào bằng chứng để xét… chia làm hai trường hợp.

    TA Vn có thẩm quyền theo điều 410 BLTTDS

    • Rất cảm ơn HDP đã khai thác sâu hơn vấn đề hủy bỏ đề nghị giao kết đối ứng. Lập luận của bạn hoàn toàn chính xác, và việc khai thác sâu vấn đề trên rất đáng hoan nghênh.

      Tuy nhiên bạn không nên khẳng định ngay rằng trả lời ban đầu đã hiểu sai hay “giải sai bài toán”, mà đơn giản là trả lời này đã giả định rằng đầu bài không cho nghĩa là tình tiết đó không có (chứ không phải là thiếu). Những chi tiết mà bạn nêu ra đều có ý nghĩa bổ sung các tình tiết mới, khiến dữ kiện đầu bài thay đổi. Ví dụ: trong trả lời đồng ý của B có thể có ghi một thời hạn ấn định mà A phải xác nhận đồng ý (chi tiết mới này tạo ra khả năng áp dụng Điều 16.1(a) của CƯ); hoặc B đã tiến hành làm các thủ tục kiểm định, đóng gói, mua bảo hiểm, thuê tàu… (tạo ra khả năng áp dụng Điều 16.1(b) của CƯ. Đầu bài ban đầu không hề cho các dữ kiện này, và trên thực tế theo điều kiện CIF bên B cũng không có trách nhiệm hay nghĩa vụ phải thực hiện các thủ tục như bạn nói (kiểm định, đóng gói, mua bảo hiểm, thuê tàu, đây đều là trách nhiệm của A).

      Ngoài ra, nếu đã “trót” đưa thêm tình tiết mới như vậy thì bạn sẽ tiếp tục phải giả định thêm nhiều dữ kiện nữa, ví dụ giả định B có ấn định thời hạn A buộc phải xác nhận đồng ý với điều kiện CIF Hải Phòng, thì phải chia ra hai trường hợp là (i) thời hạn này kết thúc trước ngày 5/4 mà cho đến thời hạn đó, A vẫn không có phản hồi xác nhận đồng ý; và (ii) thời hạn này kết thúc sau ngày 5/4, khi A đã thông báo sẽ giao hàng, ngầm hiểu (agreement by conduct) là đồng ý với điều kiện CIF Hải Phòng mà B đặt ra. Trong trường hợp (i) bên B thậm chí không cần thông báo gì thì đề nghị giao kết của B cũng hết hiệu lực và đương nhiên hợp đồng không thành lập….

      Điều 16.1(b) của CƯ là một phạm trù khác gây nhiều tranh cãi mà chúng tôi rất mong có dịp cung cấp thêm thông tin cho các bạn qua những án lệ khác để giúp các bạn có cái nhìn đa dạng hơn.

      Một lần nữa rất cảm ơn bạn HDP đã giúp mọi người có dịp hiểu sâu sắc hơn về các vấn đề xoay quanh việc thành lập hợp đồng.

      Thân mến,
      Mod

  5. Mình có hai câu hỏi mong các bạn giải đáp giùm mình.
    thứ 1: Hợp đồng mua bán giữa một quốc gia là thành viên CISG và một quốc gia khác không phải là thành viên thỏa thuận luật áp dụng của 1 quốc gia thứ 3 cũng là thành viên CISG đã loại trừ việc áp dụng CISG?

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s