Soạn thảo HĐ MBHH quốc tế

1. QUY ĐỊNH ĐIỀU KHOẢN GIÁ NHƯ THẾ NÀO?

Điều khoản giá là một trong những điều khoản quan trọng trong hợp đồng. Vì thế, các doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng cần có những lưu ý thích đáng để tránh những tranh chấp phát sinh từ việc hiểu lầm hay không thống nhất về mức giá và cách thức xác định giá.

Tranh chấp giữa người mua Pháp- Công ty Fauba FIDIS GC Electronique và người bán Đức- Công ty Fujitsu Mikroelectronik Gmbh. Tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng và liên quan đến việc xác định giá của hàng hóa. Tranh chấp được giải quyết tại Tòa Phúc thẩm Paris. Điều 14 của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (sau đây gọi tắt là CISG) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Pháp gửi một đơn chào mua các linh kiện điện tử đến người bán Đức. Trong đơn chào mua có quy định, giá mua do người mua đưa ra có thể được xem xét theo sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng.

Nhận được đơn chào mua, người bán trả lời là giá cần được xem xét theo cả sự tăng lên và sự suy giảm của giá thị trường vào thời điểm giao hàng. Người mua sau đó đã đồng ý về việc này.

Hàng hóa được người bán gửi cho người mua theo đúng đơn chào mua, nhưng người mua lại đơn phương hủy đơn chào mua của mình và không nhận hàng. Người mua cho rằng điều khoản giá quy định như vậy là chưa đủ rõ ràng để hình thành hợp đồng giữa hai bên.

Phân tích và quyết định của Toà án

Vì Pháp và Đức là hai quốc gia thành viên của CISG nên tòa án áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp.

Tòa Phúc thẩm Paris trích dẫn điều 14 khoản 1 CISG, theo đó “Một đề nghị ký kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều người xác định được coi là một chào hàng nếu nó đủ chính xác và chỉ rõ ý chí của người chào hàng muốn tự ràng buộc mình trong trường hợp có sự chấp nhận chào hàng đó. Một đề nghị là đủ chính xác khi nó nêu rõ hàng hóa và ấn định số lượng và giá cả một cách rõ ràng hoặc ngầm định hoặc quy định các yếu tố để xác định số lượng và giá cả”.

Trong tranh chấp này, đơn chào hàng của người mua đã ghi rõ: giá của hàng hóa được xác định theo sự suy giảm của giá thị trường. Ở đây, người mua đã đưa ra căn cứ để xác định giá, đó là tham chiếu đến giá thị trường vào một thời điểm cụ thể là thời điểm giao hàng. Như vậy, theo điều 14 khoản 1 CISG, điều khoản giá với giá được xác định theo sự tăng giảm của giá thị trường là đã đủ chính xác, rõ ràng.

Với những lập luận đó, tòa án cho rằng hợp đồng đã thành lập giữa hai bên, người mua không thể hủy chào hàng. Toà án kết luận người mua phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng.

Bài học kinh nghiệm

Việc “thả nổi” giá của hàng hóa theo sự tăng, giảm của giá thị trường là rất phổ biến trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là những hợp đồng có thời hạn thực hiện dài, giao hàng nhiều lần hoặc những hợp đồng mà thời điểm giao hàng chưa được xác định cụ thể. Đó là những hợp đồng có giá mở (open price contract), đáp ứng yêu cầu về giá linh hoạt theo diễn biến thị trường. Về mặt pháp lý, sự linh hoạt này giúp đảm bảo sự cân bằng cho hợp đồng, hạn chế sự thiệt thòi quá mức cho một bên khi thị trường biến động, giúp hạn chế tranh chấp phát sinh.

Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp vẫn cho rằng giá cần phải được xác định một cách chính xác, cố định. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng luôn có thói quen xác định một mức giá cố định ngay khi ký kết hợp đồng. Đây là quan điểm, về mặt pháp lý, chưa phù hợp với pháp luật hợp đồng hiện đại, và về mặt thực tiễn, chưa phù hợp với diễn biến “nóng” của giá cả hàng hóa trên thị trường hiện nay. Công ước Viên và pháp luật hợp đồng của các nước đều chấp nhận hiệu lực của các hợp đồng có giá mở, trong đó, điều khoản giá được dẫn chiếu đến giá thị trường.

Vì thế, các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý, trong một số tình huống cụ thể (đối tượng của hợp đồng là loại hàng hóa mà giá cả thường xuyên biến động, thời hạn thực hiện hợp đồng dài…), phải quy định điều khoản giá một cách hợp lý và linh hoạt. Lời khuyên là nên đưa ra mức giá chính xác ban đầu để có thể tính toán lợi nhuận và phương án kinh doanh, nhưng không quên có sự điều chỉnh giá theo sự biến động của thị trường./.

2. ĐIỀU CHỈNH GIÁ TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN THÉP

Trong mua bán quốc tế các hàng hóa mà giá cả biến động mạnh, các bên nên đưa vào hợp đồng điều khoản về điều chỉnh giá. Nếu không, khi giá cả thay đổi sẽ rất dễ dẫn đến tranh chấp.

Hợp đồng mua bán thép giữa công ty Pháp (Scafom International BV)- người bán và công ty Hà Lan (Lorraine Tubes S.A.S)- người mua. Tranh chấp phát sinh khi giá thép trên thị trường tăng 70% khiến cho hai bên bất đồng về việc điều chỉnh lại giá trong hợp đồng. Tranh chấp được giải quyết tại tòa phá án (Cour de Cassation) của Bỉ, số C.07.0289.N, ngày 19.06.2009. Hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) và Bộ Nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế.

Diễn biến tranh chấp

Người mua Hà Lan đã ký một số hợp đồng với người bán Pháp về việc giao ống thép. Sau đó, giá thép bất ngờ tăng 70%. Hợp đồng không bao gồm điều khoản điều chỉnh giá cả. Người bán viện dẫn gặp khó khăn do giá thép tăng và yêu cầu đàm phán lại giá hợp đồng. Tuy nhiên, người mua không chấp nhận và muốn người bán giao hàng theo giá hợp đồng vì trong hợp đồng không có điều khoản về điều chỉnh giá.

Phân tích và phán quyết của toà án :

Phiên tòa đầu tiên thừa nhận rằng sự tăng giá không lường trước được đã dẫn đến một sự mất cân bằng nghiêm trọng và việc tiếp tục thực hiện hợp đồng với giá hợp đồng sẽ làm người bán thiệt hại, trừ khi người bán có quyền đàm phán lại giá. Công ước Viên không có quy định cụ thể cách xử lý trong trường hợp khó khăn làm mất cân bằng nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Tuy vậy, Toà phá án của Bỉ chỉ ra rằng thực tế là điều 79(1) Công ước Viên quy định rõ ràng về bất khả kháng như một sự kiện miễn trách không có nghĩa là nó hoàn toàn tuyệt đối loại trừ những khó khăn xác đáng và khả năng đàm phán lại giá như trường hợp đang giải quyết. Thứ nhất, theo quan điểm của toà án, một sự thay đổi không lường trước được của như trường hợp đang giải quyết có thể tạo thành một sự kiện miễn trách theo điều 79(1) Công ước Viên. Thứ hai, toà án nhắc lại rằng theo điều 7(1) và 7(2) Công ước Viên, Công ước được bổ sung bởi những nguyên tắc chung mà từ đó Công ước được hình thành, đồng thời cũng nhấn mạnh đến nguyên tắc về thiện chí trong việc thực hiện hợp đồng.

Toà án đã quyết định áp dụng Bộ Nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế để bổ sung cho Công ước Viên. Theo điều 6.2.2 của Bộ Nguyên tắc này, một bên có thể yêu cầu bên kia đàm phán lại nếu có những sự kiện xảy ra làm thay đổi một cách cơ bản sự cân bằng của hợp đồng (những trường hợp như vậy được gọi là hardship- tạm dịch là hoàn cảnh khó khăn). Hơn nữa, nguyên tắc thiện chí trong kinh doanh quốc tế cũng yêu cầu các bên phải hợp tác để cùng khắc phục những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Với những lập luận trên, toà phá án Bỉ cho rằng người bán có quyền yêu cầu đàm phán lại giá cả và bác bỏ khiếu kiện của người mua.

Bình luận , bài học kinh nghiệm

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mà đối tượng hợp đồng là những mặt hàng có giá cả biến động mạnh với xu hướng khó nắm bắt, hoặc những hợp đồng có thời hạn thực hiện dài, các bên nên có điều khoản về điều chỉnh giá cả để tránh thiệt hại cho người bán và người mua cũng như các tranh tranh chấp có thể xảy ra.

Dù trong hợp đồng không có điều khoản về điều chỉnh giá thì khi giá cả của hàng hóa biến động quá lớn (trường hợp hardship), các bên nên có thiện chí đàm phán lại giá nhằm xác định lại một mức giá hợp lý, cho phép đảm bảo lợi ích của cả hai bên, giữ được mối quan hệ làm ăn hữu hảo.

Lý thuyết về hardship là một lý thuyết mới trong pháp luật hợp đồng thương mại quốc tế. Tuy lý thuyết này bắt nguồn từ các nước Common law và chưa được công nhận tại nhiều quốc gia Civil law nhưng thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy nhiều tòa án (như tòa án Bỉ ở trên) và trọng tài đã áp dụng lý thuyết này nhằm xử lý tranh chấp một cách công bằng, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cả hai bên trong hợp đồng mua bán, đặc biệt trong môi trường kinh doanh quốc tế ngày càng biến động phức tạp như hiện nay.

3. GIẢI THÍCH CÁC THUẬT NGỮ HỢP ĐỒNG NHƯ THẾ NÀO?

Trong nhiều trường hợp, khi soạn thảo hợp đồng, các bên sử dụng những thuật ngữ không chính xác hoặc tối nghĩa, dẫn đến bất đồng về cách hiểu. Vậy, cần giải thích những thuật ngữ đó theo những nguyên tắc nào?

Tranh chấp giữa một công ty của Mỹ (Allegheny Technologies, Inc.- TDY) và một công ty của Áo (Treibacher Industrie, A.G) về thuật ngữ “consignment” trong hợp đồng kí kết giữa hai bên. Hai bên có cách hiểu khác nhau về nghĩa của thuật ngữ này. Tranh chấp đã được xét xử tại tòa án phúc thẩm Mỹ, bản án số 05-13995, tuyên ngày 12/09/2006. Công ước Vienna về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (“CISG”) được áp dụng để điều chỉnh tranh chấp này do Mỹ và Áo đều là thành viên của Công ước.

Diễn biến tranh chấp:

Hai công ty đã ký hai hợp đồng theo đó, Nguyên đơn- công ty Áo đã đồng ý bán một lượng bột kim loại công nghiệp là Tantalum Carbide (TaC) cho Bị đơn- công ty Mỹ, giao hàng tháng 10 và tháng 12/2000. Bị đơn dự định dùng TaC làm nguyên liệu tại nhà máy của mình.

Nguyên đơn đã giao hàng theo đúng hai hợp đồng. Bị đơn đã trả một phần tiền cho những phần hàng mà Bị đơn đã sử dụng. Song đến ngày 23 tháng 8 năm 2001, Bị đơn từ chối thanh toán cho phần hàng mà mình không muốn dùng của Nguyên đơn.

Nguyên đơn cuối cùng đành phải bán số lượng TaC mà Bị đơn từ chối nhận với giá rẻ hơn so với giá ghi trong hợp đồng thỏa thuận với Bị đơn. Sau đó, Nguyên đơn gửi đơn kiện Bị đơn đòi bồi thường thiệt hại theo hai hợp đồng nói trên. Hai bên tranh luận với nhau về nghĩa của thuật ngữ  “ Ủy thác” (Consignment) trong Điều khoản giao hàng tại hai hợp đồng đã ký kết.

Lập luận của bị đơn: Bị đơn cho rằng, theo CISG (điều 9.2) về áp dụng các tập quán, một thuật ngữ trong hợp đồng được hiểu theo nghĩa thông thường trong ngành, trừ khi hai bên thỏa thuận với nhau cách hiểu khác. Bị đơn đã mời các chuyên gia trong ngành công nghiệp kim loại để xác nhận rằng thuật ngữ “ Uỷ thác” theo cách dùng thông thường trong ngành có nghĩa là: Không có mối quan hệ mua bán nào xảy ra trừ khi hoặc cho đến khi Bị đơn thực sự sử dụng mặt hàng TaC. Vì thế, Bị đơn chỉ trả tiền cho những phần hàng đã sử dụng là hợp lý và có quyền trả lại phần hàng mình không sử dụng.

Lập luận của Nguyên đơn: Nguyên đơn đưa ra tài liệu và các hợp đồng đã được ký kết trước đó giữa hai bên (trong vòng 7 năm), trong đó có thuật ngữ “Ủy thác”. Nguyên đơn đã chứng minh rằng nội hàm của thuật ngữ mà hai bên đã công nhận trong các hợp đồng trước, đó là: “Bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán mặt hàng TaC trong mỗi hợp đồng, nhưng Nguyên đơn sẽ lùi ngày đòi tiền cho đến khi Bị đơn thực sự sử dụng nguyên liệu TaC”. Về bản chất, đây vẫn là hợp đồng mua bán chứ không phải là hợp đồng ủy thác. Vì vậy, Bị đơn có nghĩa vụ phải nhận hàng và thanh toán tiền hàng, nếu không nhận hàng và không thanh toán thì phải bồi thường thiệt hại cho Nguyên đơn.

Phân tích và phán quyết của Tòa án

Tòa án đã căn cứ vào điều 8 và điều 9 của CISG để giải thích ý nghĩa của thuật ngữ “Consignment” trong Hợp đồng. Căn cứ theo Điều 9.1 CISG thì “Các bên bị ràng buộc bởi tập quán mà họ đã thỏa thuận và bởi các thực tiễn đã được họ thiết lập trong mối quan hệ tương hỗ”. Điều 8 cũng khẳng định khi giải thích hợp đồng “cần phải tính đến mọi tình tiết liên quan, kể cả các cuộc đàm phán, mọi thực tế mà các bên đã có trong mối quan hệ tương hỗ, các tập quán và mọi hành vi sau đó của các bên”.

Tòa án nhận định rằng, trên thực tế, từ năm 1993 đến năm 2000, đã có một loạt hợp đồng trong đó Nguyên đơn bán bột kim loại nặng cho Bị đơn. Đối với mỗi hợp đồng như vậy, sau khi Nguyên đơn giao hàng, Bị đơn lưu hàng nhận được từ Nguyên đơn trong “kho ủy thác”, nơi các sản phẩm được dán nhãn là của Nguyên đơn và tách biệt với các mặt hàng khác. Khi đưa nguyên liệu vào sử dụng, Bị đơn sẽ đưa ra “Báo cáo sử dụng” trong đó có liệt kê số lượng nguyên liệu đã dùng. Dựa trên Báo cáo đó, Nguyên đơn gửi hóa đơn cho Bị đơn với giá đã được ghi trong hợp đồng. Bị đơn sau đó thanh toán hóa đơn khi đến hạn. Trong những hợp đồng ấy, Bị đơn đều sử dụng toàn bộ và thực hiện thanh toán đầy đủ toàn bộ lượng hàng hóa thỏa thuận trong hợp đồng.

Ngoài ra, Tòa án còn trích một bằng chứng cụ thể mà Nguyên đơn đưa ra như sau: Tháng 2 năm 2000, một nhân viên của Bị đơn tên Ông Atchley gửi email cho ông Hinterhofer thuộc Công ty Nguyên đơn, biểu lộ ý muốn trả lại số nguyên liệu bột kim loại không dùng mà Nguyên đơn đã cung cấp. Ông Hinterhofer đã điện thoại lại cho Ông Atchey giải thích rằng Bị đơn không thể gửi lại hàng vì trong hợp đồng Bị đơn đã ký kết mua toàn bộ nguyên liệu. Bị đơn sau đó không có ý kiến phản đối. Điều này chứng tỏ, phía Bị đơn hiểu rõ nghĩa thuật ngữ “Consignment” được dùng trong hợp đồng cũng như nghĩa vụ phải thanh toán tất cả số lượng hàng hóa được ký kết trong hợp đồng.

Với những lập luận đó, Tòa án phán quyết rằng, theo CISG, cả hai bên đều hiểu thuật ngữ “Consignment” có nghĩa là mua bán hàng hóa, nhưng hóa đơn sẽ được lùi cho đến khi nguyên liệu được thực sự đưa vào sản xuất. Với cách hiểu đó, Bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số lượng hàng hóa đã ký kết trong hợp đồng với Nguyên đơn. Toà án quyết định Bị đơn sẽ phải bồi thường cho Nguyên đơn số tiền là 5.327.042,85 USD (bao gồm lãi suất).

Bình luận và bài học kinh nghiệm

– Cần phải soạn thảo hợp đồng với sự cẩn trọng lớn nhất. Tránh những thuật ngữ không rõ ràng, tối nghĩa hoặc có nhiều nghĩa khác nhau. Điều này đặc biệt quan trọng khi doanh nghiệp ký các hợp đồng “ngoại” với các đối tác nước ngoài. Trong những hợp đồng như vậy, một thuật ngữ tối nghĩa sẽ có thể gây tranh chấp nếu được giải thích theo pháp luật của các nước khác nhau mà có nghĩa khác nhau.

– Qua tranh chấp này, CISG thể hiện sự hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp từ trong mua bán hàng hóa quốc tế. CISG cung cấp các nguyên tắc giải thích hợp đồng phù hợp với thực tiễn kinh doanh quốc tế (điều 7, 8, 9 CISG), theo đó, thói quen được hình thành giữa các bên là một yếu tố rất quan trọng. Bên cạnh đó, hành vi của các bên, các tập quán mà các bên đã thỏa thuận hoặc các tập quán trong lĩnh vực kinh doanh của các bên cũng là những yếu tố để giải thích hợp đồng và các thuật ngữ trong hợp đồng./.

4. THỜI ĐIỂM CHUYỂN GIAO RỦI RO LÀ KHI NÀO?

Diễn biến vụ việc

 

Bên mua Hoa Kỳ và bên bán Đức ký kết hợp đồng mua bán máy hình ảnh cộng hưởng từ (MRI). Máy MRI đã được bên bán chuyển giao cho bên vận chuyển với tình trạng hoạt động tốt nhưng khi đến Hoa Kỳ thì xuất hiện dấu hiệu hư hỏng và cần phải được sửa chữa. Trong điều khoản về chuyển giao hàng hóa của hợp đồng quy định trang thiết bị phải được vận chuyển đến Cảng New York theo điều kiện CIF. Theo INCOTERMS (Điều khoản giao hàng quốc tế) thì bên bán có trách nhiệm cho việc thanh toán các chi phí, cước phí vận chuyển và chi phí bảo hiểm cần thiết để vận chuyển hàng hóa đến cảng đã thỏa thuận và Bên mua sẽ chịu những rủi ro kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao tại cảng vận chuyển.

Bên mua đã khởi kiện vụ việc lên tòa án tại Hoa Kỳ để yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với sự hư hỏng của máy MRI, yêu cầu bên bán phải chịu những rủi ro cho đến khi hàng hóa được cập cảng tại Hoa Kỳ bởi vì, không kể những trường hợp khác, quyền sở hữu hàng hóa vẫn chưa được chuyển giao cho bên mua tại thời điểm chuyển giao cho người vận chuyển. Bị đơn đã viện dẫn định nghĩa về điều kiện giao hàng CIF của INCOTERMS thì theo đó bên mua sẽ chịu mọi rủi ro xảy ra đối với hàng hóa kể từ thời điểm bên bán chuyển giao hàng tại cảng vận chuyển. Nguyên đơn phản đối và cho rằng định nghĩa của INCOTERMS không được áp dụng vì không được thể hiện rõ ràng trong hợp đồng.

Phán quyết của tòa án

Trong hợp đồng, luật được các bên chọn để giải quyết các tranh chấp phát sinh là luật của Đức và các bên trong hợp đồng đều có địa điểm kinh doanh thuộc các quốc gia tham gia CISG, nên Tòa án đã xác định giao dịch này được điều chỉnh bởi CISG.

Tòa án bác bỏ lập luận của nguyên đơn và giải thích INCOTERMS là một tập quán điều chỉnh về việc giao thương quốc tế phổ biến, áp dụng rộng rãi do vậy những điều khoản về chuyển giao hàng hóa liên quan đến điều kiện giao hàng CIF sẽ được giải thích tuân theo INCOTERMS. Luận điểm này của Tòa án căn cứ vào Điều 9(2) CISG, theo đó, các bên bị điều chỉnh bởi tập quán thương mại quốc tế phổ biến. Tòa án còn trích dẫn Phần 346 của Bộ Luật Thương Mại Đức quy định về việc áp dụng tập quán thương mại chung.

Theo lập luận của bên nguyên đơn thì điều khoản về quyền sở hữu trong hợp đồng đã sửa đổi so với điều khoản về điều kiện giao hàng CIF liên quan đến việc chuyển giao rủi ro, Tòa án vẫn khẳng định việc chuyển giao rủi ro không liên quan đến việc ai là chủ sở hữu hàng hóa (Điều 4(b)). Giải thích này được quy định tại Điều 67(1) của CISG, chứng từ liên quan đến việc sở hữu hàng hóa của bên bán không ảnh hưởng đến việc chuyển giao rủi ro, ngụ ý rằng việc chuyển giao quyền sở hữu và chuyển giao rủi ro không nhất thiết phải diễn ra cùng thời điểm. Cuối cùng tòa án đã bác đơn.

Bài học kinh nghiệm

 

Thông qua vụ việc trên, có hai vấn đề các bên trong giao dịch hàng hóa quốc tế cần lưu ý:

Thứ nhất, trong việc áp dụng các tập quán thương mại quốc tế vào hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có một nguyên tắc bất khả xâm phạm là nguyên tắc về quyền tự do thỏa thuận của các bên trong hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nói riêng, cho nên một khi các bên thỏa thuận điều kiện giao hàng là CIF hay FOB hay một phương thức nào khác được quy định bởi INCOTERM thì cũng đồng nghĩa với việc những quy định trong INCOTERM liên quan đến vấn đề này sẽ có hiệu lực áp dụng đối với hợp đồng của các bên, trừ khi các bên thỏa thuận ngoại lệ khác.

Thứ hai là thời điểm chuyển giao rủi ro. Điều 67(1) của CISG quy định nếu trong hợp đồng có thỏa thuận vận chuyển và người bán không có nghĩa vụ giao hàng cho người mua tại một địa điểm xác định thì rủi ro được chuyển sang người mua khi người bán giao hàng xong cho người vận chuyển đầu tiên để giao hàng cho người mua phù hợp với các điều kiện của hợp đồng; nếu người bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển tại một địa điểm xác định nào đó, rủi ro chưa được chuyển sang người mua khi hàng chưa được giao cho người vận chuyển tại địa điểm đó. Điều 57, 58 Luật thương mại Việt Nam có những quy định tương thích với quy định của CISG. Theo đó, thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và thời điểm chuyển giao rủi ro có thể là hai thời điểm hoàn toàn khác nhau. Điều khoản về chuyển giao rủi ro là một trong những điều khoản quan trọng mà các bên cần lưu ý vì hoạt động giao thương quốc tế là một hoạt động chứa đựng rất nhiều rủi ro vì khoảng cách giữa các địa điểm kinh doanh khác nhau khá xa, khi đó các bên cần hiểu rõ những rủi ro nào sẽ do phía mình gánh chịu.

5. L/C CÓ THỂ SỬA ĐỔI HỢP ĐỒNG?

Đôi khi, khi mở L/C, người mua sửa đổi một số điều khoản trong hợp đồng. Người bán phải làm gì khi gặp những trường hợp như vậy? Là một công cụ thanh toán, L/C có chức năng sửa đổi hợp đồng hay không? Nếu không nắm được những vấn đề này, người bán có thể gặp nhiều rủi ro trong thanh toán và thực hiện hợp đồng

Diễn biến tranh chấp

Do hạn chế về hạn ngạch, HTX tư nhân Tân Lộc đã kí một hợp đồng uỷ thác với Công ty Thương mại Tây Ninh (doanh nghiệp nhà nước – tên viết tắt là Tanico) để xuất khẩu 300 tấn bột ngọt, trị giá 312.000 USD theo điều kiện FOB Qui Nhơn cho đối tác Singapo là Ng Nam Bee.

Ngày 25/1/1995, Tanico đã kí hợp đồng mua bán với Ng Nam Bee, theo đó thanh toán được thực hiện bằng thư tín dụng không hủy ngang, với điều kiện đỏ (tức là bên mua ứng trước 50%); thời gian giao hàng là bất kì lúc nào cho đến 28/2/1995; hợp đồng có cả điều khoản quy định không cho phép sử dụng chứng cứ ngoài hợp đồng (four- corners clause).

Ngày 5/1/1995, Ng Nam Bee phát hành một L/C không huỷ ngang, điều kiện đỏ, có hiệu lực đến ngày 15/3/1995.

Ngày 21/1/1995: điều kiện đỏ được thực hiện- bên mua ứng 156.000 USD cho bên bán.

Ngày 28/2/1995, ngày cuối cùng của thời hạn thực hiện hợp đồng, Ng Nam Bee đã gửi bản sửa đổi L/C, theo đó giá trị của L/C được kéo dài đến 4/4/1995. Trong L/C phía Singapo cũng hoãn ngày giao hàng đến 20/3. Ngày 1/3/1995, ngân hàng đại lý tại Việt Nam nhận được bản L/C sửa đổi và gửi tới cho Tanico ngày 2/3/1995. Ngày 8/3/1995, Tanico gửi nó tiếp cho Tân Lộc.

Tân Lộc sau khi chờ đợi đến ngày 4/3 mà không thấy bên người mua nước ngoài nhận hàng thì đã coi hợp đồng bị huỷ bỏ và đã gửi trả lại khoản tiền ứng trước cho Tanico để Tanico gửi trả người mua. Ngày 9/3/1995, khi nhận được bản bổ sung L/C, Tân Lộc tuyên bố chấm dứt hợp đồng với lý do là phía người mua đã vi phạm thời gian nhận hàng.

Ngày 10/3/1995, Ng Nam Bee gửi 2 bản sao xác nhận về việc tàu Hei Hu Quan sẽ đến cảng Qui Nhơn vào đêm 11/3. Ngày 13/3/1995, tàu đến cảng Qui Nhơn mà không được giao hàng.

Ng Nam Bee phát đơn kiện Tanico đòi bồi thường, và cho rằng trong L/C đầu tiên có điều khoản cho phép người phát hành có quyền thay đổi thời hạn giao hàng nên việc Ng Nam Bee hoãn ngày giao hàng là hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Chính bên mua đã vi phạm hợp đồng là không giao hàng.

Câu hỏi đặt ra là điều khoản này của L/C có tính chất bắt buộc với cả 2 bên không? Bên nào đã vi phạm hợp đồng?

Phân tích và quyết định của toà án:

– Các điều khoản của L/C có thể thay đổi nội dung của hợp đồng không?

Về hình thức thì đây là tranh chấp về thời hạn giao hàng giữa hai bên đối tác nhưng thực chất vấn đề xuất phát từ cách hiểu khác nhau của hai bên về quyền và nghĩa vụ của mình theo hợp đồng và theo thư tín dụng.

Hợp đồng qui định cụ thể không cho phép các bên được sử dụng những chứng cứ ngoài hợp đồng. Trong khi đó, bên mua ở đây lại căn cứ theo qui định của L/C cho mình quyền được thay đổi thời hạn giao hàng của hợp đồng; mà L/C chỉ đơn thuần công cụ thanh toán, nói cách khác, là một chứng cứ ngoài hợp đồng. Có thể thấy, rõ ràng bên mua vi phạm điều khoản về việc sử dụng các chứng cứ ngoài hợp đồng của hợp đồng mua bán.

Mặt khác, theo tập quán thường xuyên được áp dụng trong thanh toán quốc tế mà hai bên chấp nhận sử dụng là UCP 500 thì thấy rằng, theo quy tắc 9 khoản D điểm I đối với một L/C không huỷ ngang, người phát hành không được phép thay đổi nội dung trừ khi có sự đồng ý của ngân hàng phát hành, ngân hàng chấp nhận, người bán. Trong trường hợp này, không có một hành động nào của người bán thể hiện rằng anh ta chấp nhận sự sửa đổi này của người mua đối với bản sửa đổi L/C mà phía Singapo đã gửi. Như vậy, toà án đã phán quyết sự sửa đổi này của người mua là không hợp pháp và vì thế nên không có giá trị hiệu lực.

Nếu xem xét về sửa đổi hợp đồng theo Công ước Viên thì theo điều 29 của Công ước này, một hợp đồng có thể được sửa đổi hay chấm dứt bằng thoả thuận đơn thuần giữa các bên. Phân tích các tình tiết của tranh chấp thì rõ ràng ở đây chưa hề có sự thoả thuận nào giữa hai bên về việc lùi thời hạn giao hàng nên hoàn toàn có thể kết luận rằng hợp đồng hai bên ký kết không có gì thay đổi về nội dung.

– Về quyền hủy hợp đồng của người bán

Tham chiếu đến điều 53 CISG ta thấy rằng, người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo qui định của hợp đồng nhưng ở đây sau 4 ngày của thời hạn cuối cùng vẫn chưa thấy người mua đến nhận hàng. Người mua vi phạm hợp đồng, vì thế, người bán đã tuyên bố hủy hợp đồng.

Tuy nhiên, liệu sự vi phạm này của người mua có cho phép người bán được lấy đó làm căn cứ tuyên bố hủy hợp đồng? Theo điều 64 khoản 1 CISG khi người mua không thi hành nghĩa vụ nào đó trong thời gian đã gia hạn thêm, người bán mới có quyền tuyên bố huỷ hợp đồng. Về mặt lý thuyết, kéo dài 4 ngày không được coi là đã gia hạn thời gian thực hiện nghĩa vụ, nhưng nếu xét tình huống thực tế rằng, đối tượng của hợp đồng mua bán này -bột ngọt- lại là mặt hàng rất dễ hư hỏng nếu lưu kho kéo dài, thì có thể coi hành động huỷ hợp để tránh những thiệt hại xảy ra là hợp lý. Tòa án đã tuyên bố người bán có quyền hủy hợp đồng và người mua phải chịu trách nhiệm về việc đã không điều tàu đến cảng nhận hàng đúng thời hạn.

Bình luận và lưu ý:

– Về mối quan hệ giữa L/C và hợp đồng

Hợp đồng là văn bản có giá trị hiệu lực cao nhất ràng buộc hai bên mua bán, nếu muốn sửa đổi hợp đồng thì cần có sự thống nhất, thỏa thuận của cả hai bên. Nếu hợp đồng được ký bằng văn bản thì nên thỏa thuận mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng cũng cần được lập thành văn bản.

Cần chú ý là các chứng cứ ngoài hợp đồng như L/C không thể có giá trị ràng buộc bằng hợp đồng. Tuy vậy, trên thực tế, có trường hợp, người mua mở L/C với những nội dung khác biệt so với hợp đồng (ví dụ kéo dài thời hạn giao hàng, bổ sung thêm chứng từ thanh toán). Trong mọi trường hợp (kể cả trong tình huống hợp đồng không có điều khoản four- corners clause như trong tranh chấp này) thì những thay đổi căn cứ theo qui định của L/C mà người mua đưa ra không có giá trị sửa đổi hợp đồng, đó chỉ được coi là những lời đề nghị sửa đổi, nhất thiết phải có sự đồng ý của người bán mới có giá trị. Khi nhận được L/C do người mua mở, người bán phải kiểm tra thật kỹ xem L/C có phù hợp với hợp đồng không, nếu thấy sự không phù hợp phải yêu cầu người mua tu chỉnh ngay trước khi giao hàng, tránh những tranh chấp phát sinh sau này.

Về vấn đề này, phán quyết của tòa án Việt Nam là hoàn toàn hợp lý.

– Về quyền hủy hợp đồng của người bán

Huỷ hợp đồng là chế tài nặng nhất khi xử lý vi phạm liên quan đến hợp đồng, cần nắm vững những trường hợp vi phạm như thế nào thì được hủy hợp đồng. Theo CISG, người bán chỉ có thể hủy hợp đồng khi người mua không nhận hàng trong thời hạn đã được gia hạn thêm hoặc khi người mua vi phạm cơ bản hợp đồng (điều 25 CISG). Tuy nhiên, nếu đối tượng hợp đồng là hàng hóa mau hỏng thì việc áp dụng chế tài huỷ hợp đồng trên thực tế có thể linh hoạt hơn nhằm hạn chế tổn thất cho các bên. Ở đây, tòa án Việt Nam cho rằng bột ngọt là hàng hóa mau hỏng nên người bán có thể hủy hợp đồng ngay mà không cần gia hạn thêm. Quyết định này của tòa án Việt Nam là phù hợp với thực tiễn xét xử tại nước ngoài, theo đó, nếu hàng hóa mau hỏng thì việc chậm nhận hàng vài ngày cũng có thể bị coi là vi phạm cơ bản và dẫn tới chế tài hủy hợp đồng.

Tuy nhiên, lẽ ra tòa án Việt Nam nên xem xét đến phản ứng của người bán Việt Nam khi có vi phạm của người mua. Tanico nhận được bản L/C sửa đổi ngày 2/3, nhưng lại không ngay lập tức gửi cho Tân Lộc. Phải đợi 1 tuần sau đó (ngày 9/3), Tân Lộc mới nhận được bản L/C sửa đổi này. Hơn nữa, khi quyết định huỷ hợp đồng thì đáng lẽ ra người bán Việt Nam cần thông báo bằng văn bản cho bên mua một cách không chậm trễ (Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng quy định nghĩa vụ thông báo này tại điều 315), tránh việc họ vẫn tiếp tục điều tàu đến cảng Qui Nhơn, tức là tránh thiệt hại cho người mua. Trong quyết định của mình, đáng tiếc là tòa án đã không đề cập đến vấn đề này.

– Về việc áp dụng CISG

Đây là trường hợp đầu tiên ghi nhận việc tòa án Việt Nam áp dụng CISG. Trên thực tế, trong tranh chấp này, luật áp dụng là luật Việt Nam (cụ thể là Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989) và tòa án đã áp dụng CISG như một nguồn luật bổ sung để làm rõ thêm lập luận của mình. Chúng tôi cho rằng, quyết định áp dụng CISG của tòa án Việt Nam là hoàn toàn hợp lý nhằm bổ sung cho luật Việt Nam./.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s