Vi phạm hợp đồng và bồi thường thiệt hại

1. Oberster Gerichtshof 21.06.2005 (Hợp đồng phân phối-Giao hàng một phần-Vi phạm nghiêm trọng hợp đồng) Trong nhiều trường hợp bên bán chỉ giao một phần hàng hóa, bên mua có quyền từ chối thực hiện thanh toán toàn bộ giá tiền theo hợp đồng nếu việc giao hàng một phần đó cấu thành việc vi phạm nghiêm trọng hợp đồng. Diễn biến tranh chấp Một công ty của Đức (bên bán) và một công ty của Áo (bên mua) đã ký kết một hợp đồng khung, theo đó bên mua được trao quyền phân phối một loại phần mềm trên lãnh thổ Áo. Theo hợp đồng này bên mua đã gửi tới bên bán đơn đặt hàng để cung cấp cho một cơ quan chính phủ của Áo. Tuy nhiên các đĩa CD được giao đã không chứa đầy đủ các phần mềm được yêu cầu, vì vậy bên mua từ chối thanh toán. Bên bán khiếu kiện và yêu cầu thanh toán tiền mua hàng theo hợp đồng, và cho rằng bên mua đã không yêu cầu chính xác phần mềm bị cho là thiếu trong các đĩa CD. Quyết định của toà án Sau khi tòa án sơ thẩm đã bác bỏ lập luận của bên bán. Tòa án phúc thẩm đã cho rằng đây là một trường hợp mua bán đơn lẻ dựa trên hợp đồng khung về phân phối giữa hai pháp nhân có trụ sở tại các nước là thành viên Công ước Viên 1980 (CISG), với đối tượng là các phần mềm tiêu chuẩn chứa trong CD, được trả gộp một lần và vì vậy đáp ứng điều kiện áp dụng Công ước Viên. Tòa phúc thẩm cho rằng bên mua có quyền từ chối toàn bộ hợp đồng trong trường hợp giao hàng một phần (và giữ lại toàn bộ thanh toán) chỉ khi việc giao hàng một phần đó cấu thành việc vi phạm nghiêm trọng hợp đồng (căn cứ theo Điều 51(2) và Điều 25 CISG). Ngược lại, nếu không có sự vi phạm nghiêm trọng hợp đồng thì bên mua chỉ được quyền từ chối thanh toán phần hàng hóa chưa được giao (Điều 51(1) CISG). “Vi phạm nghiêm trọng” được giải thích là khi vi phạm đó tước đi một cách đáng kể quyền lợi mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng theo hợp đồng. Trong trường hợp này Tòa cho rằng cần nhìn vào thỏa thuận của các bên và cách đánh giá của họ về sự quan trọng của việc thực hiện nghĩa vụ của bên kia, qua đó xác định bên mua có quyền từ chối thanh toán toàn bộ hợp đồng hay không. Bài học kinh nghiệm Để tránh những tranh chấp liên quan đến việc giao hàng không đầy đủ, khi giao kết hợp đồng mua bán, các bên nên quy định rõ ràng trong hợp đồng (1) chi tiết cấu thành các bộ phận hàng hóa mà bên mua mong muốn được nhận (ví dụ nội dung các phần mềm phụ kiện/hỗ trợ lưu trên đĩa CD); (2) cho phép hay không cho phép giao hàng theo từng phần; và (3) việc vi phạm yêu cầu giao hàng toàn phần (nếu có) có bị coi là vi phạm nghiêm trọng hợp đồng hay không. 2. TÍNH TOÁN TIỀN BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI Một trong những vấn đề khó khăn và hay gây tranh cãi trong các tranh chấp, đó là việc tính toán số tiền bồi thường thiệt hại mà bên vi phạm phải trả cho bên bị vi phạm. Để đòi bồi thường thành công, các bên cần phải lưu ý tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản. Tranh chấp giữa một công ty Pháp (người mua) và một công ty Italia (người bán). Do hàng hóa người bán giao không phù hợp với hợp đồng, người mua hủy hợp đồng và đòi bồi thường thiệt hại. Hai bên tranh cãi về số tiền bồi thường. Tranh chấp được xét xử tại Tòa Phúc thẩm tại thành phố Rennes (Pháp), bản án ngày 27/05/2008. Công ước Vienna năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (cụ thể là các điều 25, 35, 47, 49, 75 và 77) đã được áp dụng để giải quyết tranh chấp. Diễn biến tranh chấp Trong năm 2003, công ty Pháp đã ký với công ty Italia một số hợp đồng mua miếng lót ngực để sản xuất áo bơi. Tổng số lượng của các hợp đồng là 17.600 đôi. Hàng hóa được giao đến cho một công ty Tuy-ni-di để gia công. Trong quá trình gia công, người mua phát hiện ra các miếng lót ngực không phù hợp với yêu cầu về chất lượng đã được quy định trong hợp đồng và trả lại hàng. Ngày 3/11/2003, người bán Italia đề nghị sẽ sửa chữa hàng hóa và sẽ giao hàng hóa phù hợp trong thời gian 5 tuần. Tuy vậy, người bán đã không thực hiện được việc sửa chữa hàng hóa trong thời gian nói trên. Ngày 11/12/2003, người mua tuyên bố hủy hợp đồng và đòi người bán bồi thường 32.490 euros, bao gồm 2 khoản sau: 1. Chi phí sản xuất lô áo bơi tại Tuy-ni-di từ miếng lót ngực không đạt chất lượng: 16.290 euros (1800 áo x chi phí 9,05 euros/áo) 2. Thiệt hại (do chênh lệch giá) khi mua miếng lót ngực để thay thế: công ty người mua, vào tháng 12/2003 đã phải đặt hàng mua gấp 16.200 đôi miếng lót ngực từ một nhà cung cấp T khác và vì mua gấp cũng như không có vị thế đàm phán nên phải chấp nhận mức giá cao hơn 1 euros so với mức giá trong hợp đồng, dẫn đến thiệt hại là 16.200 euros Người bán phản đối các khoản bồi thường nói trên và cho rằng các khoản này là không hợp lý. Phán quyết của Tòa án: Tòa án cho rằng hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Vienna năm 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) vì cả Pháp và Italia đều là thành viên của Công ước này. Tòa án áp dụng các điều 25, 35, 47 và 49 CISG để khẳng định trong trường hợp này, người mua có quyền hủy hợp đồng do người bán đã vi phạm cơ bản hợp đồng và không thể sửa chữa hàng hóa không phù hợp trong khoảng thời gian mà người mua đã gia hạn thêm. Về các khoản mà người mua đòi bồi thường, tòa án lập luận như sau: – Khoản 1: Theo các thư từ trao đổi giữa các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, vào thời điểm phát hiện ra sự không phù hợp của hàng hóa, mới có 860 đôi miếng lót ngực được đưa vào sản xuất. Tuy vậy, phải đợi 3 ngày sau thì công ty người mua mới cho lệnh dừng dây chuyền sản xuất áo bơi tại Tuy-ni-di, làm cho số lượng áo bơi được sản xuất tăng lên 1800. Tòa án dẫn chiếu đến điều 77 CISG liên quan đến nguyên tắc hạn chế tổn thất, theo đó, bên bị vi phạm phải áp dụng những biện pháp hợp lý căn cứ vào các tình huống cụ thể để hạn chế tổn thất do sự vi phạm hợp đồng gây ra. Tòa án cho rằng, trong trường hơp này, đáng lẽ người mua phải hành động nhanh chóng hơn để giảm bớt thiệt hại do việc miếng lót ngực không đúng chất lượng được đưa vào sản xuất. Hơn nữa, chi phí sản xuất áo bơi (9,05 euros/áo) do người mua tính là chưa hợp lý vì chi phí nhân công trung bình để sản xuất áo bơi tại Tuy-ni-di thấp hơn ở Pháp rất nhiều, chỉ khoảng 1 euros/áo. Với những lập luận đó, Tòa án cho rằng người mua chỉ được đòi bồi thương thiệt hai số tiền là 3000 euros. – Khoản 2: Để xem xét khoản thiệt hại do mua hàng thay thế, tòa án áp dụng điều 75 CISG: Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thay thế hay bán lại hàng. Khi so sánh giá một đôi miếng lót ngực theo hợp đồng là 0,93 và 0,98 euros (tương ứng với hai cỡ MB 01 và MB 02) và giá mua thay thế là 1,98 Tòa án thấy rằng sự chênh lệch giá là quá lớn và bất hợp lý. Tòa cho rằng, việc mua hàng thay thế vì thế đã không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp lý được quy định tại điều 75 CISG. Vì thế, khoản thiệt hại này đã bị tòa án bác bỏ. Tòa án ra phán quyết rằng người mua chỉ đòi được 3000 euros chứ không phải là 32.490 euros. Bình luận và bài học kinh nghiệm Tranh chấp này cho thấy, để đòi bồi thường thiệt hại thành công, bên bị vi phạm phải tuân thủ hai nguyên tắc rất quan trọng sau đây: Thứ nhất là nguyên tắc hạn chế tổn thất. theo đó, bên đòi bồi thường thiệt hại phải áp dụng những biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất. Ví dụ, trong trường hợp tranh chấp này, một cách hợp lý, người mua Pháp đáng lẽ có thể hạn chế đáng kể thiệt hại bằng cách ngừng ngay dây chuyền sản xuất khi phát hiện sự không phù hợp của hàng hóa. Hành động chậm trễ của người mua đã khiến người mua bị giảm tiền bồi thường xuống tương ứng với những thiệt hại đáng lẽ ra có thể hạn chế được nếu hành động ngay lập tức. Thứ hai là nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán và chứng minh một cách hợp lý. Tính hợp lý ở đây được đánh giá một cách khách quan, dựa trên thực tiễn các yếu tố của tranh chấp và của thị trường. Nguyên tắc này không cho phép các bên thổi phồng thiệt hại của mình lên một cách vô căn cứ, bất hợp lý. Trong tranh chấp này, tòa án đã dựa vào giá hàng, giá nhân công cũng như mức giá của thị trường để nhận định rằng các thiệt hại mà người mua tính toán là bất hợp lý, không khách quan, không phù hợp với thực tiễn. Tất cả những thiệt hại như vậy đều bị từ chối bồi thường. Cả hai nguyên tắc này đều được ghi nhận bởi pháp luật hợp đồng thương mại của Việt Nam (xem các điều 302 và 305  Luật Thương mại năm 2005). Như vậy, các nguyên tắc về đòi bồi thường thiệt hại của Việt Nam và CISG là khá tương thích và vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham khảo các tranh chấp về CISG để rút ra bài học kinh nghiệm cho mình./.

2. TÍNH TOÁN LÃI MẤT HƯỞNG

Khi một bên vi phạm cơ bản hợp đồng khiến cho hợp đồng bị hủy, bên bị vi phạm có quyền đòi bồi thường thiệt hại. Trong các khoản thiệt hại đòi bồi thường, lãi mất hưởng là khoản thường gây tranh cãi. Trên thực tế, việc chứng minh lãi mất hưởng một cách hợp lý là điều không dễ dàng.

Tranh chấp giữa và. Delchi đặt mua máy nén khí từ Rorotex để sản xuất máy điều hòa không khí. Rorotex cung cấp máy nén khí không phù hợp. Delchi hủy hợp đồng và đòi bồi thường lãi mất hưởng do không cung cấp đủ máy điều hòa cho thị trường. Hai bên tranh cãi về số tiền bồi thường.

Diễn biến tranh chấp:

Rotorex và Delchi ký hợp đồng mua bán máy nén khí, những máy này sẽ được Delchi sử dụng để sản xuất máy điều hòa không khí hiệu Ariele. Trước khi thực hiện hợp đồng, người bán Rotorex đã gửi cho người mua Delchi một máy nén mẫu kèm theo một bản thông số kỹ thuật.

Rotorex đã giao hàng và Delchi đã thanh toán cho lô hàng này bằng thư tín dụng. Tuy vậy, sau đó, Delchi phát hiện ra rằng lô hàng không phù hợp: 93% máy nén khí có khả năng làm lạnh thấp hơn và tiêu thụ năng lượng nhiều hơn so với mẫu và so với thông số kỹ thuật. Sau những nỗ lực không thành công của Rotorex để khắc phục các lỗi kỹ thuật này, Delchi yêu cầu Rotorex cung cấp những máy nén khí mới phù hợp với qui cách phẩm chất qui định. Rotorex đã từ chối. Delchi tuyên bố hủy bỏ hợp đồng và đòi Rotolex bồi thường thiệt hại, trong đó có lãi mất hưởng. Rotolex không bồi thường, Delchi đã kiện Rotolex ra tòa án Mỹ dựa trên qui định của Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.

Delchi đòi khoản lãi mất hưởng do nguyên nhân trực tiếp từ vi phạm của bị đơn, bao gồm những khoản như sau:

  1. 421.187.095 lia mất đi do không cung cấp được 2.395 sản phẩm Ariele cho các công ty chi nhánh khắp Châu Âu.
  2. 31.310.200 lia mất đi do không giao 100 sản phẩm Ariele cho công ty White – Westinghouse- Đức
  3. 266.057.772 lia mất đi do không có 604 sản phẩm Ariele nhãn hiệu Delchi để giao ở Ý; và 280.319.840 lia mất đi do không có được 653 sản phẩm Ariele nhãn hiệu White – Westinghouse để giao ở Ý; như vậy tổng cộng 546.377.612 lia lợi nhuận mất hưởng ở Ý.

Phân tích và quyết định của tòa án:

Về luật áp dụng, Tòa tuyên bố rằng Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp vì Ý và Mỹ là thành viên của Công ước này.

Trước hết, tòa án xét xem hành động huỷ hợp đồng trong trường hợp này có hợp lý không. Ở đây, máy nén khí không phù hợp với qui cách do công suất làm mát thấp và tiêu thụ nhiều năng lượng. Mà công suất làm mát và khả năng tiêu thụ năng lượng là những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị của một chiếc máy nén khí. Vi phạm này khiến cho người mua không thực hiện được mục đích của mình là sản xuất ra những chiếc điều hoà đạt tiêu chuẩn, tiêu thụ được trên thị trường, do đó nó được coi là một vi phạm cơ bản theo điều 25 CISG. Delchi vì thế có quyền hủy hợp đồng (điều 49 CISG).

Về khoản lãi mất hưởng mà Delchi yêu cầu bồi thường, tòa án nhận định: theo điều 74 Công ước Viên 1980, Delchi được quyền đòi lãi mất hưởng do vi phạm hợp đồng của Rotorex; tuy vậy bên bị vi phạm phải cung cấp đủ bằng chứng để chứng minh thiệt hại một cách hợp lý. Tòa xem xét từng khoản mà Delchi yêu cầu bồi thường như sau:

Khoản 1: Chi phí sản xuất 1 đơn vị Ariele với máy nén Rotorex là 478.783 lia. Giá bán đơn vị trung bình của Delchi cho các công ty chi nhánh ở các nước Châu Âu ngoài Ý là 654.644 lia. Delchi không phải trả hoa hồng. Vì vậy, Delchi đã mong đợi lợi nhuận bán hàng cho một đơn vị Ariele cho các công ty chi nhánh Châu Âu là 175.861 lia (654.644 lia – 478.783 lia). Do hành vi vi phạm hợp đồng của Rotorex mà Delchi đã không đáp ứng được hết 2.395 đơn vị từ các đơn đặt hàng của các chi nhánh công ty khắp Châu Âu, có chi tiết các đơn đặt hàng là minh chứng. 421.197.095 lia là lợi nhuận mất hưởng. Tòa án cho rằng cách tính toán và chứng minh khoản thiệt hại này là hợp lý.

– Khoản 2: Giá bán đơn vị trung bình của Delchi  cho chi nhánh ở Đức – White – Westinghouse là 799.876 lia. Delchi đã trả tiền bản quyền 7991 lia cho mỗi sản phẩm cho White – Westinghouse. Vì vậy, Delchi mong đợi lợi nhuận trên mỗi sản phẩm Ariele từ White – Westinghouse là 313.102 lia (799.876 lia – 478.783 lia – 7.991 lia). Delchi có đưa ra bằng chứng là đơn đặt hàng 500 đơn vị của White – Westinghourse, trong số đó chỉ có 250 đơn vị được cung cấp. Tuy vậy, Delchi chỉ đòi được 31.310.200 lia là lợi nhuận mà Delchi mất hưởng do không giao 100 sản phẩm (do Delchi đã hủy đơn đặt hàng 150 sản phẩm trước khi phát hiện ra vi phạm của Rotorex).

– Khoản 3: Các đại lý của Ý đã xác nhận rằng họ sẽ đặt thêm sản phẩm Ariele nếu như bên Delchi có thể cung cấp thêm. Số lượng sản phẩm Ariele có thể được đặt thêm đã được ghi trong bản tổng hợp các đơn đặt hàng dự kiến của Delchi; nhưng theo tòa án, bản này không có giá trị pháp lý, mang tính chất suy đoán. Vì vậy, tòa án đã bác bỏ khoản lợi mất hưởng tại Ý do Delchi đã không cung cấp được những chứng từ liên quan đến số lượng hàng bán bị bỏ lỡ ở Ý do lỗi trực tiếp vi phạm hợp đồng của bên Rotorex.

Bình luận và bài học kinh nghiệm:

Để đòi lãi mất hưởng, bên bị vi phạm phải cung cấp đủ bằng chứng để chứng minh khoản lãi mất hưởng là hợp lý và phát sinh trực tiếp từ hành vi vi phạm của bên kia. Việc chứng minh là không dễ dàng do bên bị vi phạm phải chứng minh những khoản thu nhập mà trên thực tế mình đã không có được (không xảy ra trên thực tế). Thông thường, những đơn đặt hàng chính thức, hay các hợp đồng đã ký với khách hàng được coi là những bằng chứng hợp lý. Những khoản lãi mang tính chất suy đoán mà không được chứng minh sẽ bị từ chối bồi thường./.

3.HỦY HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP VI PHẠM MỘT PHẦN HỢP ĐỒNG

Trong nhiều trường hợp một phần hàng hóa bị sai hỏng, bên mua có quyền từ chối thực hiện thanh toán toàn bộ trị giá hợp đồng nếu việc vi phạm một phần đó cấu thành việc vi phạm nghiêm trọng hợp đồng.

Diễn biến tranh chấp:

Người bán Italia và người mua Đức ký hợp đồng mua bán giầy theo các chỉ tiêu phẩm chất thông thường. Nhiều lô hàng đã được giao trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2001, và trong đó có nhiều giầy bị lỗi. Từ tháng 7/2001, người mua bắt đầu nhận được các khiếu nại từ khách hàng của mình về chất lượng giầy. Vì vậy, người mua thông báo với người bán về 36 đôi giầy sai hỏng. Ngày 12/12/2001, người mua thông báo cho người bán về việc hủy hợp đồng và trả hàng hóa lại cho người bán. Người bán kiện người mua, yêu cầu thanh toán toàn bộ số tiền của hợp đồng.

Vì hai bên của hợp đồng có trụ sở tại các quốc gia  thành viên của CISG nên tòa đã áp dụng CISG để giải quyết tranh chấp. Tòa sơ thẩm ra phán quyết có lợi cho người bán. Tòa cho rằng người bán có quyền được thanh toán toàn bộ tiền hàng, người mua không có quyền hủy hợp đồng theo điều 49 CISG vì chỉ có 36 đôi sai hỏng trong tổng số 319 đôi được giao.

Tòa phúc thẩm đã hủy bỏ quyết định của Tòa sơ thẩm. Tòa phúc thẩm cho rằng, dù là chỉ một phần hàng hóa bị sai hỏng, nhưng đó là một vi phạm cơ bản theo nghĩa của điều 25 CISG, vì vi phạm đó tước đi một cách đáng kể quyền lợi mà bên mua đáng lẽ được hưởng theo hợp đồng. Trong tranh chấp này, giầy được làm từ vật liệu không tốt, lại được sản xuất không đúng quy trình, điều đó khiến cho người mua có quyền nghi ngờ về lỗi của những sản phẩm còn lại. Hơn nữa, do những khiếu nại của khách hàng ảnh hưởng đến uy tín của người mua nên doanh thu của người này đã bị giảm sút. Điều này gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của người mua do người mua chỉ là một nhà kinh doanh nhỏ.

Với những lập luận đó, tòa án cho rằng mặc dù sai hỏng chỉ liên quan đến một tỷ lệ nhỏ trong tổng số hàng hóa đã giao nhưng người mua vẫn có quyền hủy toàn bộ hợp đồng (theo điều 51(2) CISG). Điều 51 quy định nếu chỉ một phần hàng hóa đã giao phù hợp với hợp đồng thì chế tài chỉ được áp dụng đối với phần hàng không phù hợp với hợp đồng; nhưng người mua được tuyên bố hủy bỏ toàn bộ hợp đồng, nếu một phần hàng giao không phù hợp với hợp đồng cấu thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng.

Hơn nữa, tòa án cho rằng người mua không mất quyền khiếu nại về sự không phù hợp của hàng hóa vì anh ta đã thông báo kịp thời về sự không phù hợp trong một thời hạn hợp lý sau khi phát hiện ra sự không phù hợp đó (tức là ngay sau khi nhận được khiếu nại của khách hàng (theo điều 39(2) CISG) và cũng ngay lập tức thông báo về ý định hủy hợp đồng (theo điều 49(2) CISG).

Cuối cùng, tòa án bác bỏ lập luận của người bán rằng đáng lẽ người mua phải gia hạn cho người bán một thời hạn bổ sung để thực hiện nghĩa vụ trước khi tuyên bố hủy hợp đồng (điều 47 CISG), vì theo tòa, việc gia hạn một thời hạn bổ sung này là không cần thiết trong trường hợp vi phạm cơ bản hợp đồng.

Bài học kinh nghiệm:

Về nguyên tắc, nếu chỉ một phần hàng giao có lỗi hay sai hỏng thì người mua chỉ được đòi bồi thường hoặc đòi hủy hợp đồng đối với phần hàng giao đó mà thôi. Tuy nhiên, nếu việc vi phạm một phần đó là vi phạm nghiêm trọng, làm người mua mất đi một cách cơ bản lợi ích mà anh ta trông đợi ở hợp đồng, thì người mua vẫn có quyền hủy toàn bộ hợp đồng./.

4.HỦY HỢP ĐỒNG KHI CHẬM NHẬN HÀNG

 Khi người mua chậm nhận hàng, người bán phải gia hạn cho người mua một thời hạn hợp lý để nhận hàng. Nếu sau khi hết thời hạn này mà người mua vẫn không nhận hàng, thì người bán có quyền hủy hợp đồng.

Diễn biến tranh chấp:

Tháng 5-1996, người mua Pháp đã đặt hàng từ người bán Tây Ban Nha 860,000 lít nước cam ép nguyên chất. Hợp đồng quy định rằng, hàng sẽ được giao từng đợt từ tháng 5 đến tháng 12.

Theo một sửa đổi hợp đồng được hai bên thỏa thuận, hai bên đồng ý rằng đợt hàng giao tháng 9 sẽ được giao vào cuối tháng 8, đồng thời người bán sẽ giảm giá hàng cho người mua. Vào thời gian giao hàng tháng 8, người mua không nhận hàng. Tuy nhiên, đến tháng 9, người mua lại yêu cầu giao hàng. Ngày 03-09 người bán thông báo rằng người bán không còn nước cam ép để giao.

Vì người bán không giao hàng, người mua đã phải tìm một nhà cung cấp khác với giá cao hơn và từ chối thanh toán tiền những lô hàng trước. Người mua đã cung cấp hóa đơn mua hàng từ 02 công ty khác (là MANDY và NUFRI) 570,039 lít nước cam ép nguyên chất với giá trung bình là 2.6 francs mỗi lít thay vì 2.17 francs như đã thỏa thuận với người bán trong khoảng thời gian từ tháng 9 tới tháng 12-1996. Chi phí phát sinh thêm là 245,116 francs (=570,039 lít * 0.43 francs/lít).

Người bán kiện người mua ra Tòa thương mại Romans. Tòa án đã yêu cầu công ty Pháp phải thanh toán tiền hàng với lý do là người bán có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ của mình vì người mua chậm trễ nhận hàng. Người mua kháng cáo tại Tòa phúc thẩm Grenoble.

Người mua cho rằng, Tòa án cấp dưới đã không căn cứ các điều khoản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đặc biệt là các điều 25, 63, 64 trong phán quyết của mình, theo đó, người mua hiểu rằng: “Nếu người bán muốn hủy hợp đồng, một cách hợp lý phải yêu cầu bên mua thực hiện nghĩa vụ nhận hàng của mình và cho thêm một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ nhận hàng.” Người bán không gia hạn cho người mua, và sau đó, người bán không giao hàng khi người mua yêu cầu, như vậy, người bán đã vi phạm hợp đồng.

Người bán nhấn mạnh rằng việc người mua chậm trễ nhận hàng đã gây ra những vấn đề phải cất trữ hàng hóa vào kho và buộc người bán phải cô đặc nước cam ép để để đảm bảo nước cam ép nguyên chất không bị hỏng và vì vậy không thể tiếp tục giao hàng. Người bán cũng nhấn mạnh thêm rằng, khi xem xét tới sự khẩn cấp phải cất trữ, bảo quản hàng hóa và sự biến động tỷ giá, người bán không có giải pháp nào khác ngoài giải pháp phải xử lý hàng hóa như vậy và vì vậy việc yêu cầu một thời hạn bổ sung hợp lý là không cần thiết.

Phân tích và quyết định của tòa án:

Căn cứ vào Điều 1.1- CISG, vì người mua và người bán trong vụ tranh chấp có trụ sở thương mại ở các quốc gia là thành viên của Công ước (Pháp và Tây Ban Nha), nên Tòa phúc thẩm áp dụng CISG là nguồn luật giải quyết tranh chấp.

Để khẳng định người bán có quyền hủy hợp đồng không, Tòa án xem xét liệu người mua có vi phạm cơ bản hợp đồng không.

Hợp đồng ban đầu quy định rằng, việc nhận hàng sẽ là vào tháng 9. Việc giao hàng vào cuối tháng 8 là đề xuất sửa đổi hợp đồng của người bán, và được người mua chấp nhận. Tòa án thấy rằng, trong hợp đồng ban đầu, trong hợp đồng được sửa đổi cũng như khi người mua chậm nhận hàng, người bán chưa từng đề cập tới việc nước cam ép không bền và cần thiết phải cô đặc lại nếu để đến sau tháng 8. Đối với người mua, việc giao hàng vào cuối tháng 8 đơn giản là sự tương xứng với một lợi ích tài chính (được giảm giá). Người mua không thể hiểu rằng việc chậm một vài ngày nhận hàng bị coi như là một vi phạm cơ bản hợp đồng chiểu theo Điều 25- CISG. Hơn nữa, tòa án cũng thấy rằng, đơn hàng thay thế của người mua cho tới tháng 12-1996 có đối tượng là nước cam ép nguyên chất của mùa năm 1996, điều đó cho thấy, việc cô đặc nước cam ép của người bán ngay lập tức khi người mua chậm nhận hàng là chưa thuyết phục.

Như vậy, đáng lẽ người bán phải gia hạn một thời gian bổ sung hợp lý để người mua nhận hàng, nếu người mua không nhận hàng trong thời hạn bổ sung này thì người bán mới được hủy hợp đồng. Ở đây, người bán đã hủy hợp đồng không có căn cứ.

Việc người bán từ chối giao hàng là vi phạm hợp đồng, điều này buộc người mua phải mua hàng thay thế. Điều 74, 75- CISG cho phép người mua đòi bồi thường thiệt hại do chênh lệch giá giữa giá hợp đồng và giá mua hàng thay thế.

Người bán đưa ra thêm lý do về tỷ giá biến động cho biện pháp giải thích không gia hạn thời gian bổ sung cho người bán là một lý lẽ không thuyết phục, vì người bán hoàn toàn có thể đòi bồi thường thiệt hại theo điều 74- CISG.

Theo các lý lẽ trên, Toà phúc thẩm:

  • Tuyên hủy bỏ quyết định của tòa án cấp
  • Quyết định người bán đã vi phạm hợp đồng, phải bồi thường thiệt hại chênh lệch giá mua hàng thay thế cho người mua (theo điều 75 CISG).

Bình luận và lưu ý:

  1. Về tính dự đoán trước được của thiệt hại đối với người mua

Trong tranh chấp này, người bán đã lập luận rằng việc mình tiến hành bảo quản hàng là hợp lý, đặc biệt hàng trong trường hợp này là hàng nhanh hỏng (không bền) (theo lập luận của người bán), tuy nhiên việc bảo quản bằng cách cô đặc hàng hóa đã làm thay đổi đối tượng hàng hóa theo hợp đồng là nước cam ép nguyên chất và không thể là một cách bảo quản hàng hợp lý. Đăc biệt, người bán không thông báo và nêu lý do về sự cần thiết phải làm điều đó khi người mua chậm nhận hàng. Như vậy, người mua không thể tiên liệu được thiệt hại đó khi họ không thực hiện nghĩa vụ của mình và một cách hợp lý, người mua hiểu rằng họ được cho một thời hạn bổ sung hợp lý để thực hiện hợp đồng chiểu theo Điều 63- CISG.

Như vậy, tính dự đoán trước của thiệt hại đối với bên vi phạm được CISG nhấn mạnh (tại điều 25 và điều 74). Một bên khi áp dụng một hành động đối phó hay một biện pháp bảo hộ hợp lý với một sự vi phạm hợp đồng của bên kia cần phải thông báo cho họ, tránh trường hợp họ viện dẫn là không thể lường trước được thiệt hại. Pháp luật Việt Nam chưa có những quy định tương tự, vì thế các doanh nghiệp Việt Nam cần chú ý nhằm bảo vệ quyền lợi của mình.

  1. Về việc bồi thường thiệt hại khi mua hàng thay thế

Điều 75 CISG đã quy định về một trường hợp rất thường gặp trong thực tế, đó là trường hợp khi người bán không giao hàng dẫn đến việc người mua phải mua hàng thay thế. Điều 75 quy định rất rõ ràng trong trường hợp này, người mua có thể đòi người bán bồi thường chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thay thế. Quy định này rất dễ áp dụng, giúp bên bị vi phạm có thể tính toán ngay lập tức khoản tiền đòi bồi thường. Pháp luật Việt Nam chưa có quy định tương tự, vì thế, các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa có thể tham khảo quy định này của CISG để tính toán tiền bồi thường trong trường hợp mua hàng thay thế./.

5.NGHĨA VỤ HẠN CHẾ TỔN THẤT KHI CÓ TRANH CHẤP

Đối với các lô hàng đang có tranh chấp, bên nào đang giữ hàng phải có những biện pháp thích hợp để bảo quản hàng hóa, tránh việc hàng hóa bị tổn thất, hay chất lượng bị giảm sút. Trong tranh chấp này, do người mua vi phạm nghĩa vụ thanh toán, người bán không giao hàng, lưu hàng vào kho. Tuy vậy, người bán lại không bán hàng đi mà lại để hàng hóa trong kho quá lâu, khiến cho hàng hóa hư hỏng. Vì không áp dụng các biện pháp hạn chế tổn thất đối với lô hàng nên quyền đòi bồi thường thiệt hại của người bán đối với người mua bị ảnh hưởng.

Diễn biến tranh chấp:

Người bán Pakistan và người mua Nga ký kết hợp đồng mua bán với điều kiện giao hàng CIF cảng Nga (cảng St. Peterburg).

Lần giao hàng đầu tiên đã được thực hiện và mặc dù phát hiện có một lượng đáng kể hàng hoá bị khiếm khuyết trong lần giao hàng này, người mua đã không thực hiện quyền đình chỉ hợp đồng của mình như đã qui định trong hợp đồng.

Không nhận được phản hồi gì từ người mua, người bán chuẩn bị sẵn sàng để giao lô hàng thứ hai.

Sau đó, do người mua không thực hiện các thủ tục thanh toán cho lô hàng thứ hai qua thư tín dụng, người bán, thay vì giao lô hàng này cho người mua, đã đưa chúng vào kho lưu hàng của mình. Do thời gian bảo quản lâu, hàng hóa bị hỏng khoảng một nửa, số còn lại được biếu cho tổ chức từ thiện.

Người bán kiện người mua ra trọng tài, yêu cầu người mua bồi thường 3 khoản sau:

  • Giá trị của lô hàng thứ 2 theo giá của hợp đồng cộng với lãi suất trên số tiền đó.
  • Bồi thường số tiền phát sinh cho việc lưu kho lô hàng thứ 2
  • Bồi thường chi phí nguyên vật liệu đã mua bởi người bán để sản xuất lô hàng tiếp theo

Phân tích và quyết định của trọng tài:

Bên mua và bên bán đã đồng ý áp dụng pháp luật Liên bang Nga để điều chỉnh những vấn đề phát sinh bên ngoài qui định của hợp đồng, điều này cũng có nghĩa là các bên đã công nhận hợp đồng được điều chỉnh bởi Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vì Nga đã gia nhập Công ước này và vì vậy, Công ước cũng là một nguồn luật điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Liên bang Nga.

Hội đồng xét xử cho rằng, bên mua không thực hiện các thủ tục thanh toán cho lô hàng thứ hai là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.

Cũng cần lưu ý thêm rằng: người mua, khi nhận được 10% hàng hóa bị khiếm khuyết trong lô hàng thứ nhất, có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng miễn là thông báo trước về điều đó cho người bán như điều 11 mà hợp đồng mua bán giữa hai bên đã qui định, nhưng người mua thừa nhận trước hội đồng xét xử là không thực thi quyền hạn này của mình. Vì vậy, người mua không thể từ chối việc thanh toán và việc nhận lô hàng thứ hai. Hội đồng trọng tài phán quyết rằng người mua vi phạm điều 54 của công ước Viên về nghĩa vụ thanh toán tiền hàng: người mua không “áp dụng các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng”.

Trong tình huống người mua không thực hiện nghĩa vụ, người bán có quyền không giao hàng và gửi hàng vào kho lưu trữ của mình. Hành động người bán gửi hàng hóa vào kho để bảo quản hàng hóa là hợp lý khi người mua chậm trễ nhận hàng hay không trả tiền (theo quy định tại điều 85 CISG). Tuy vậy, hội đồng trọng tài nhận định rằng người bán để thời gian bảo quản quá lâu, khiến một lượng lớn hàng hóa bị hư hỏng, phần còn lại được biếu cho tổ chức từ thiện. Hội đồng trọng tài cho rằng hành động trên của người bán là vi phạm điều 77 CISG bởi vì người bán, bên bị vi phạm, đã không tiến hành những biện pháp cần thiết để giảm thiểu thiệt hại của hàng hóa. Trong trường hợp hàng hóa được bảo quản theo điều 85 CISG thuộc loại hàng mau hỏng thì phải được giải quyết theo điều 88 CISG: bên có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa phải tiến hành các biện pháp hợp lý để bán hàng đi. Tuy nhiên, người bán lại không đưa ra bằng chứng nào trước hội đồng về việc đã tiến hành các biện pháp hợp lý để bán hàng đi hay không thể thực hiện việc đó và cũng thừa nhận là do thời gian bảo quản quá lâu đã dẫn đến tổn thất kể trên cho hàng hóa.

Xuất phát từ điều này, và với những lập luận về vi phạm hợp đồng và luật áp dụng của người mua như đã nói ở trên,  hội đồng xét xử quyết định tổn thất của lô hàng thứ hai sẽ phân bổ cho cả hai bên trong đó người bán chỉ được bồi thường 25% giá trị hợp đồng. Cũng cần lưu ý thêm rằng, điều kiện giao hàng ở đây là CIF cảng Nga (St. Petersburg), nên hội đồng trọng tài đề nghị giá trị hợp đồng để tính toán bồi thường thiệt hại không bao gồm chi phí vận chuyển và bảo hiểm.

Về khoản bồi thường cho số tiền nguyên vật liệu đã mua để dự trữ cho việc sản xuất những lô hàng kế tiếp, Hội đồng trọng tài xét thấy là đối tượng của hợp đồng giữa các bên là thành phẩm hoàn chỉnh được giao cho người mua chứ không phải là nguyên liệu để sản xuất chúng. Bên cạnh đó, cần phải xét đến trường hợp nguyên đơn cần phải có các biện pháp hợp lý để giảm thiểu thiệt hại cho mình như bán nguyên vật liệu cho thị trường trong nước hoặc quốc tế. Người bán không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào chứng minh việc không bán được nguyên liệu. Chính vì vậy yêu này của người bán bị bác bỏ.

Bình luận và lưu ý:

Về nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại của bên bị vi phạm

Như phân tích cho thấy rõ ràng người mua là bên vi phạm hợp đồng nhưng cuối cùng chỉ phải bồi thường 25% thiệt hại. Người bán, người bị vi phạm, đáng lẽ ra là người được bồi thường những thiệt hại do hành vi vi phạm của đối tác gây ra thì lại gánh chịu 75% thiệt hại. Nghe qua tưởng chừng là vô lý, nhưng phán quyết của các trọng tài thương mại quốc tế Nga là hoàn toàn hợp lý, tuân thủ chặt chẽ quy định tại các điều 77 và điều 88(2) CISG. Người bán là người hiểu rõ về đặc điểm của hàng hóa và thời hạn bảo quản của nó, lại để mặc cho hàng hóa hư hỏng do thời gian bảo quản quá lâu mà không có hành động gì để hạn chế tổn thất. Vì vậy, anh ta gánh chịu 75% giá trị hợp đồng-  sự ước tính hợp lý của hội đồng trọng tài liên bang Nga về tổn thất mà đáng lẽ ra người bán có thể tránh được nếu người bán chủ động bán hàng hóa đi trong thời hạn hợp lý. Qua đó cũng cho thấy tư duy của những nhà soạn thảo Công ước Viên năm 1980: yêu cầu về tinh thần thiện chí của các bên trong hợp đồng.

Người bán, trong trường hợp này, nếu chủ động bán lô hàng thứ hai trong thời gian hợp lý trước khi lô hàng bị hỏng thì sau đó hoàn toàn có quyền đòi toàn bộ thiệt hại phải chịu, bao gồm chi phí lưu kho, số tiền lỗ chênh lệch do việc phải bán lại hàng hóa cộng với chi phí hợp lý phát sinh do phải bán lại lô hàng đó (theo điều 75 Công ước Viên) và có thể tránh được tổn thất kể trên.

Bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam

Xét về trách nhiệm giảm thiểu thiệt hại, điều 305, Luật thương mại Việt Nam năm 2005 cũng có qui định tương tự: “Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ được hưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại không áp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giá trị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được”. Tranh chấp này có thể là bài học cho doanh nghiệp Việt Nam về về tinh thần thiện chí và nghĩa vụ phải thực hiện các biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất.

Ngoài ra, tranh chấp này là ví dụ minh họa rõ nét về việc áp dụng Công ước Viên đối với các doanh nghiệp tại các quốc gia chưa phải là thành viên Công ước (như Việt Nam): hợp đồng được kí kết giữa thương nhân Nga và thương nhân Pakistan, trong đó Nga là thành viên của Công ước Viên, còn Pakistan chưa gia nhập. Hợp đồng lại có thỏa thuận: những vấn đề phát sinh bên ngoài qui định của hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật của Nga, và Nga đã thành viên của Công ước nên Công ước Viên trở thành nguồn luật điều chỉnh hợp đồng mua bán nói trên. Người bán Pakistan, trong trường hợp này, có thể do chưa tìm hiểu kĩ về nguồn luật điều chỉnh hợp đồng (trong đó có Công ước Viên), chưa nắm được nghĩa vụ của mình nên dẫn đến tổn thất đáng tiếc kể trên.

Vậy là mặc dù Pakistan chưa là thành viên của Công ước Viên, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa thương nhân Pakistan và thương nhân các nước thành viên Công ước vẫn chịu sự điều chỉnh của Công ước Viên như trường hợp án lệ này. Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có thể gặp trường hợp tương tự như vậy. Trong bối cảnh Việt Nam chưa là thành viên của Công ước, và rất nhiều đối tác của doanh nghiệp Việt Nam có trụ sở tại các quốc gia đã là thành viên của Công ước (Trung Quốc, Hoa Kỳ, các nước EU, Nhật Bản…) thì khả năng hợp đồng thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam chịu sự điều chỉnh của Công ước Viên là rất lớn. Chính vì vậy, dù sớm hay muộn, các doanh nghiệp Việt Nam nên tìm hiểu đầy đủ về Công ước Viên khi tham gia vào các giao dịch thương mại quốc tế./.

6. HỦY HỢP ĐỒNG HAY SỬA CHỮA KHUYẾT TẬT?

Khi hàng hóa có khuyết tật, người mua nên tạo cơ hội hợp lý cho người bán sửa chữa khuyết tật đó trước, nếu người bán không sửa chữa hoặc không sửa chữa được thì người mua mới có quyền hủy hợp đồng.

Diễn biến tranh chấp:

Hai bên Singapore và Ba Lan kí hợp đồng mua bán ngoại thương, theo đó bên bán Singapore sẽ giao cho bên mua là Ba Lan linh kiện phần cứng máy tính. Luật áp dụng trong hợp đồng là Luật quốc gia Pháp. Bên bán Singapore giao trước cho bên mua một nửa số hàng theo hợp đồng, tuy nhiên, bên mua Ba Lan nhận được thông báo từ phía khách hàng của mình là có lỗi kĩ thuật xảy ra với lô hàng đã nhận. Bên Ba Lan từ chối nhận nửa số hàng còn lại mà bên Singapore gửi, và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Phía Singapore đã nhờ đến Trọng tài để giải quyết vấn đề này và yêu cầu phía Ba Lan bồi thường tổn thất cho mình theo mức lãi suất yêu cầu.

Lập luận của Nguyên đơn

Thứ nhất, nguyên đơn cho rằng sự không phù hợp của hàng hóa được giao với hàng hóa qui định trong hợp đồng chưa thể bị xem là vi phạm cơ bản.

Thứ hai, trong trường hợp hàng hóa có sai sót, người bán mong đợi, và có quyền mong đợi, cơ hội khắc phục khiếm khuyết một cách hợp lý. Trong trường hợp này, đại diện người bán đã chứng mình rằng các công việc cần thiết cho phép các thiết bị này được điều chỉnh đã được thực hiện và thực tế là bên bán không hề nêu ra yêu cầu bên mua phải bồi hoàn chi phí sửa chữa đó. Như vậy xét theo tinh thần của Công ước Viên và luật Pháp, thì trong trường hợp này, người mua không có quyền hủy hợp đồng.

Lập luận của Bị đơn

Theo các qui định trong mua bán, các bên phải giao hàng đúng như được qui định trong  hợp đồng (Bộ luật dân sự Pháp điều 1603, 1625,1234, và Công ước Viên điều 35). Ở đây người bán đã giao hàng không phù hợp, không đáp ứng được mục đích ban đầu của người bán, chính vì vậy đây được xem là vi phạm cơ bản, và người mua hoàn toàn có quyền hủy hợp đồng.

Hơn nữa, việc giao hàng không phù hợp cũng đã gây ra nhiều khó khăn cho bị đơn Ba Lan. Theo đó, bên Ba Lan đã bị khách hàng của mình kiện về việc giao hàng không đúng, sản phẩm không phù hợp như miêu tả cũng như là tiêu chuẩn chất lượng và mục đích sử dụng. Như vậy, việc giao hàng không phù hợp của bên nguyên đơn Singapore đã khiến bên Ba Lan bị thiệt hại và mất lợi nhuận đáng lẽ được hưởng từ các giao dịch giữa bên Ba Lan và khách hàng của họ.

Phân tích và quyết định của trọng tài:

Theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng thì luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng là luật của Pháp. Công ước Viên được sử dụng để củng cố lập luận của hội đồng trọng tài. Đây là một trường hợp áp dụng khá phổ biến của CISG: CISG thường được các tòa án, đặc biệt là các trọng tài áp dụng nhằm bổ sung cho luật quốc gia được lựa chọn áp dụng cho hợp đồng, thậm chí để lấp những lỗ hổng, thiếu sót trong luật quốc gia đó.

– Hủy hợp đồng do vi phạm cơ bản

Sự không phù hợp của hàng hóa là vấn đề bàn cãi trong tranh chấp này. Theo các bằng chứng đưa ra, bên bán đã giao hàng không phù hợp cho bên mua. Tuy nhiên, một điều cần phải xem xét là sự không phù hợp này ở mức độ nào, và liệu đã đủ để bên mua đưa ra quyết định chấm dứt hợp đồng hay không. Theo luật Pháp cũng như luật hầu hết các quốc gia, chỉ khi có sự vi phạm cơ bản thì mới được phép hủy hợp đồng và điều này cũng được qui định tương tự tại điều 49 trong công ước Viên 1980: “Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm cơ bản hợp đồng.”

Việc người mua lập luận hàng hóa không phù hợp là vi phạm cơ bản của người bán, cơ sở để chấm dứt hợp đồng, là không thỏa đáng. Hội đồng trọng tài quan tâm đến một chi tiết rằng hàng hóa không được miêu tả đúng như trong tài liệu mà bị đơn đã đưa ra làm căn cứ. Thực tế là hàng hóa được giao có khiếm khuyết nhưng bị đơn lại không lập luận rằng những sai sót và thiếu phù hợp nêu trên sẽ khiến hàng hóa hoàn toàn không thể sử dụng được. Chính vì vậy, hàng hóa, dù chưa phù hợp, chưa bị xem là kém phẩm chất đến nỗi không thể đáp ứng được mục đích sử dụng của người mua. Do đó, vi phạm của người bán giao hàng không phù hợp chưa bị xem là vi phạm cơ bản theo Công ước Viên (điều 25).

– Người bán bị tước cơ hội hợp lý để khắc phục khiếm khuyết, người mua không có quyền hủy hợp đồng.

Theo khoản 3 điều 1184 của Bộ luật dân sự Pháp: các bên phải tiến hành những biện pháp cần thiết để cho hợp đồng được thực hiện và tránh khỏi phải hủy bỏ hợp đồng giữa các bên.Tương tự như vậy, khoản 2 điều 46 Công ước Viên quy định: “Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng”; trong khi đó điều 49 qui định người bán có thể khắc phục mọi khiếm khuyết trong việc thực hiện hợp đồng bằng chi phí của mình nếu anh ta có thể thực hiện việc đấy không chậm trễ và không gây ra bất lợi bất hợp lý nào cho người mua, hoặc là phải bồi hoàn cho người mua mọi chi phí mà anh ta đã bỏ ra để khắc phục vi phạm của người bán. Cũng theo điều 49 CISG, người mua chỉ có thể tuyên bố hủy hợp đồng nếu việc vi phạm hợp đồng của người bán cấu thành vi phạm cơ bản.

Trong tình huống này, đại diện của bên bán đã khẳng định trong biên bản chứng thực của anh ta về việc sửa chữa đối với hàng hóa cung cấp có thể được tiến hành với chi phí nhỏ nhất. Thực tế, bên bị đơn đã không hề đề cập đến vấn đề sửa chữa này. Bên cạnh đó, tòa án cũng đã xác nhận được rằng: thông qua bản Telex mà bên bị đơn đã yêu cầu hoãn việc giao một phần hàng hóa đã đặt hàng là vì lý do gặp tình huống khó khăn của bên khách hàng cuối cùng mua sản phẩm, chứ không có bất cứ vấn đề kỹ thuật nào nảy sinh. Căn cứ đó cho thấy, Bị đơn đã bị xúi giục để yêu cầu hoãn thời gian giao hàng, không phải lý do kỹ thuật. Như vậy, hội đồng trọng tài kết luận, người mua đã vi phạm điều 49 công ước Viên vì không tạo cơ hội để người bán khắc phục khiếm khuyết, và vì vi phạm của người bán không phải là vi phạm cơ bản như đã phân tích ở trên, nên hội đồng đưa ra phán quyết hợp đồng không bị hủy trong trường hợp này.

Xem xét mức độ lỗi của hai bên, trọng tài phán quyết: Bị đơn chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Nguyên đơn vì đã hủy hợp đồng thiếu căn cứ; tuy vậy, căn cứ những yếu tố của trường hợp này, và đặc biệt sự không phù hợp giữa hàng hóa được mô tả trong hợp đồng và yêu cầu chất lượng sản phẩm và khả năng sử dụng, trọng tài xác nhận bị đơn được quyền giảm giá sản phẩm với mức 25% trị giá còn lại của hợp đồng.

Bình luận và lưu ý:

– Về vi phạm cơ bản, cơ sở để hủy hợp đồng

Hủy hợp đồng là chế tài nặng nhất cho hành vi vi phạm hợp đồng của các bên tham gia hợp đồng. Một trong những điều kiện để hợp đồng bị hủy là có vi phạm cơ bản.Vi phạm cơ bản theo qui định của công ước Viên là một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra nếu vi phạm đó làm cho bên bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở của hợp đồng. Khái niệm “mất cái có quyền chờ đợi trên cơ sở của hợp đồng” là khá trừu tượng, nên để kết luận một vi phạm là vi phạm cơ bản thường được các hội đồng xét xử cân nhắc một cách kĩ lưỡng. Trong vụ tranh chấp này, vi phạm giao hàng không đúng phẩm chất qui định của người bán bị kết luận là vi phạm cơ bản nếu người mua chứng được rằng hàng kém phẩm chất đến nỗi không đáp ứng được mục đích của anh ta. Nếu không có qui định cụ thể về thế nào là vi phạm cơ bản, thì xem xét mục đích sử dụng hàng hóa được mua trong hợp đồng. Liệu hàng hóa có thực sự đáp ứng mục đích của người mua sẽ quyết định có sự vi phạm cơ bản hay không.

Trong trường hợp này, người mua kinh doanh máy vi tính, và lô hàng nhập về, tuy có một số khiếm khuyết, vẫn được bán cho người tiêu dùng. Như vậy, đối tượng của hợp đồng đáp ứng mục đích kinh doanh người mua. Thêm vào đó, bên bị đơn không hề phủ nhận rằng khiếm khuyết của hàng hóa khiến anh ta mất đi hoàn toàn cơ hội sử dụng nó. Chính vì vậy, sự không phù hợp này không bị xem là vi phạm cơ bản; người mua không đủ cơ sở để yêu cầu hủy hợpđồng.

– Khả năng khắc phục khiếm khuyết hàng hóa của người bán

Một giới hạn quan trọng cho việc hủy hợp đồng theo Công ước Viên là khả năng khắc phục khiếm khuyết hàng hóa của người bán. Mặc dù bản thân khiếm khuyết là một điều kiện cần để cấu thành một vi phạm cơ bản của hợp đồng, nhưng nó không phải là điều kiện đủ. Trong nhiều trường hợp khi người bán có thể khắc phục khiếm khuyết của hàng hóa như sửa chữa, giao hàng thay thế với điều kiện thực hiện không chậm trễ và không gây bất tiện cho người mua, thì vẫn không bị xem là có vi phạm cơ bản xảy ra, hay nói cách khác, người mua không thể hủy hợp đồng lúc đấy mặc dù vi phạm có vẻ như là vi phạm cơ bản. Như vậy, trong trường hợp hàng hóa được giao có khiếm khuyết mà người bán có thiện chí và sẵn sàng sửa chữa hay thay thế hàng hóa, thì người mua cũng nên, một cách thiện chí, tạo điều kiện cho người bán thực hiện điều này.

Tuy nhiên, không phải lúc nào người mua cũng nên chấp nhận khắc phục hàng hóa của người bán khi cơ sở niềm tin giữa hai bên bị đánh mất, ví dụ người bán có hành vi lừa đảo. Ngoài ra, nếu người bán không có phản ứng gì trước thông báo về hàng hóa không phù hợp của người mua, hoặc là từ chối khắc phục, hoặc là đồng ý khắc phục nhưng ngoài thời gian cho phép, thì những trường hợp này có thể xem là đã có vi phạm cơ bản.

Cách quan niệm như trên về vi phạm cơ bản trong hợp đồng và điều kiện để hủy hợp đồng đã phản ánh tư tưởng chủ đạo của công ước Viên là luôn đề cao tính thực thi của hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế. Trong mọi trường hợp, chế tài hủy hợp đồng chỉ nên được xem như là phương án giải quyết cuối cùng. Bằng cách này, Công ước Viên đã đóng góp như là một công cụ giải quyết vi phạm thực sự hiệu quả./.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s