CISG và các nước

1. Khái quát về quá trình tham gia của các nước vào Công ước Viên

Kể từ khi được ký kết vào năm 1980 đến nay, Công ước Viên đã trải qua 30 năm với nhiều dấu mốc trong việc mở rộng các nước thành viên. Có thể tạm chia các làn sóng gia nhập CISG của các nước theo 4 giai đoạn sau:

Giai đoạn 1 (1980-1988): Đây là giai đoạn 10 nước đầu tiên phê chuẩn Công ước để đủ số lượng cho phép Công ước có hiệu lực. 10 nước này là: Ai Cập, Argentina, Cộng hòa Ả Rập, Syrian, Hoa Kỳ, Hungary, Italy, Lesotho, Pháp, Trung Quốc, Zambia. Có thể thấy trong số 10 nước thành viên đầu tiên Hoa Kỳ  và Trung Quốc là hai thành viên rất đáng chú ý, vì Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên của Châu Á tham gia CISG. Tuy nhiên cả hai quốc gia này đều tuyên bố bảo lưu Điều 1.1(b), khiến mức độ áp dụng và ảnh hưởng của CISG tại hai quốc gia này giảm đáng kể.

Giai đoạn 2 (1989-1993): Đây là làn sóng thứ 2 của việc gia nhập Công ước, với 29 quốc gia, trong đó hầu hết là các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, lần lượt hoàn thành các thủ tục phê chuẩn để tham gia Công ước. Thời gian này cũng đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Nga và Đông Âu, các nước này sau khi chuyển đổi nền kinh tế cũng đã nhanh chóng hòa nhập với xu thế chung của các nước Tây Âu gia nhập Công ước Viên (trong quá trình đàm phán Công ước Viên, Nga và các nước Đông Âu cũng đóng vai trò lớn trong việc soạn thảo, góp ý kiến tại các hội nghị, vì vậy việc tham gia nhanh chóng của các quốc gia này cũng không đáng ngạc nhiên). Đáng chú ý trong thời gian này có hai thành viên mới là Úc và Canada, hai nước có nền kinh tế khá phát triển và áp dụng hệ thống Thông Luật. Việc tham gia của hai nước này đã khiến đại diện hệ thống Thông Luật trong CISG tăng lên và thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia khác.

Giai đoạn 3 (1994-2000): Trong giai đoạn này rất nhiều nước đang phát triển ở châu Phi và châu Mỹ, cũng như những quốc gia cuối cùng của EU (trừ Anh) như Bỉ, Ba Lan, Luxembourg, Hy Lạp đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn và gia nhập Công ước. Singapore là nước ASEAN đầu tiên gia nhập CISG vào năm 1995. Luật pháp Singapore dựa trên cở sở nền tảng Thông luật của Anh, từ lâu đã được xem là luật quốc gia có tính chất trung dung, quy định chặt chẽ đầy đủ, và được nhiều doanh nhân ưa thích áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế của mình. Vì vậy, mặc dù khi gia nhập Singapore có bảo lưu điều 1.1(b) nhằm hạn chế áp dụng Công ước, việc tham gia CISG đánh dấu nỗ lực to lớn trong việc tham gia thống nhất hóa luật pháp thương mại quốc tế của quốc gia có nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên thương mại quốc tế này.

Giai đoạn 4 (2001-2010): Đây là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và sự tăng cường vai trò của các nước đang phát triển mới nổi, trong đó nổi bật là Trung Quốc, Braxin, và Ấn Độ. CISG đã chứng kiến một thời kỳ trầm lắng từ năm 2001-2004 khi mà các vòng đàm phán trong khuôn khổ WTO đang diễn ra hết sức căng thẳng với sự xung đột về lợi ích giữa các nước đang phát triển với nhiều đại diện mới nổi và các nước đã phát triển. Trong giai đoạn này chỉ có 5 thành viên mới phê chuẩn Công ước là Saint Vincent và Grenadines, Colombia, Iceland, Honduras và Israel. Năm 2005 chứng kiến sự gia nhập quan trọng của thành viên châu Á mới là Hàn Quốc, một trong 4 nước công nghiệp mới tại châu Á. Sau nhiều năm tranh cãi về sự khác biệt giữa luật quốc gia và CISG, trong bối cảnh tại nước láng giềng Nhật Bản, phong trào vận động Nhật Bản tham gia Công ước ngày càng mạnh mẽ, các nhà làm luật tại Hàn Quốc cuối cùng đã được thuyết phục là việc áp dụng CISG sẽ giảm bớt tính không dự đoán trước của các giao dịch thương mại quốc tế của mình khi phải áp dụng luật của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và Đức. Việc gia nhập của Hàn Quốc đã khởi động lại làn sóng nghiên cứu việc tham gia CISG tại các nước đang phát triển khác như Cyprus, Gabon, Liberia, Montenegro, El Salvador, Paraguay, Lebanon, Albania, Armenia. Cuối cùng, năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của CISG tại châu Á khi Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới và lớn nhất tại châu Á, cuối cùng đã trở thành thành viên chính thức của CISG mà không có bảo lưu nào. Với sự kiện này, Anh sẽ là quốc gia phát triển thuộc khối G7+1 cuối cùng chưa gia nhập Công ước Viên. Sau Nhật Bản, chắc chắn nhiều quốc gia khác ở châu Á và khu vực ASEAN sẽ cân nhắc việc sớm tham gia Công ước, để có thể áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình một cách chủ động, khi mà các bạn hàng lớn đều đã là thành viên của Công ước này.

2. Công ước Viên 1980 – Tại sao gia nhập? Tại sao không?

2.1 Vương quốc Anh – Tự hào truyền thống

Sau 30 năm ra đời, CISG vẫn chưa được Vương quốc Anh phê chuẩn. Tuy nhiều quốc gia đã trở thành thành viên của Công ước (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc,…) nhưng cường quốc này vẫn đứng ngoài cuộc và không hề có động thái chính thức nào về việc tham gia. Nhiều lý do đã đươc đưa ra để giải thích tại sao CISG được áp dụng phổ biến tại các quốc gia nhưng Vương quốc Anh vẫn chưa gia nhập Công ước này[1]. Giải thích phổ biến nhất là Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh là một văn bản có sức ảnh hưởng rất lớn trong mua bán hàng hóa quốc tế, và là niềm tự hào của các luật gia Anh. Việc tham gia CISG có thể làm giảm sức ảnh hưởng này và với một quốc gia bảo thủ như Vương quốc Anh, đây không phải là điều họ mong muốn.

Hai cuộc khảo sát năm 1989 và 1997 lấy ý kiến của các doanh nghiệp Anh về việc gia nhập CISG cho thấy đa số các tập đoàn kinh tế lớn không mấy hứng thú với Công ước này, trong đó có ICI, BP, Shell,… và rất nhiều tổ chức bỏ phiếu thuận năm 1989 cũng thay đổi ý định của mình vào năm 1997. Hầu hết họ cho rằng việc tham gia Công ước sẽ càng gây thêm nhiều tranh chấp và làm giảm tầm ảnh hưởng của luật Anh trên trường quốc tế. Tham gia một chuẩn mực như CISG sẽ làm giảm đi đáng kể thu nhập từ việc xét xử các vụ tranh chấp hợp đồng tại nước này theo luật Anh. Trong khi đó, với sức mạnh kinh tế của mình, tính đến thời điểm hiện tại, nền kinh tế Anh không hề bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc không gia nhập CISG.

Theo nhiều luật sư Anh, một số điều khoản của Công ước được xem là “cái bẫy” dẫn tới việc không áp dụng luật Anh hoặc gây khó khăn cho các luật sư đã quen áp dụng luật Anh. Angelo Forte – giảng viên Luật của Đại học Aberdeen, Scotland[2] – đã chỉ rõ những “cái bẫy” này trong một bài nghiên cứu của mình. Thứ nhất, nếu là thành viên của CISG thì CISG sẽ trở thành luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ngay cả khi quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của Anh (quy định tại khoản b của Điều 1.1), trừ khi Anh thực hiện bảo lưu điều 1.1(b). Điều này đồng nghĩa với việc loại bỏ Luật của Anh ra khỏi vị trí ưu tiên áp dụng, và điều này thì chắc chắn những nhà lập pháp của Anh không hề mong đợi. “Cái bẫy” thứ 2 ở điều 16.2(a) về điều kiện “chào hàng không thể bị hủy”. Công ước quy định rằng chào hàng không thể bị hủy nếu nó ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay khẳng định rằng nó không thể bị hủy”. Nhưng trong luật của Anh, chào hàng không thể bị hủy chỉ khi “có hồi âm từ người được chào hàng” và “người chào hàng cam đoan không hủy”, tức là 2 điều kiện này phải đồng thời diễn ra. Vì những nguy hiểm tiềm ẩn như vậy, các luật sư phải hết sức cẩn thận khi soạn thảo và thương thuyết hợp đồng.

Thêm nữa, như đã nói ở trên, quy phạm pháp lý quốc gia hiện hành tại Vương quốc Anh và các điều khoản của Công ước 1980 không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy chỉ cần một cách diễn đạt hay lối hành văn bị hiểu sai là có thể dẫn đến sự tổn thất nghiêm trọng cho hệ thống Luật quốc gia của Anh. Ví dụ, những thuật ngữ quá chung được sử dụng trong công ước như “tính Quốc tế”, “việc áp dụng thống nhất Công ước”, “tuân thủ trong thương mại Quốc tế” tại Điều 7 sẽ gây nhiều tranh cãi trong cách hiểu và áp dụng.

Nói một cách khác, tính “truyền thống” của pháp luật Anh và sự “bảo thủ” của” nước này đã ngăn cản họ tham gia CISG.


2.2 Nam Phi – Gia nhập hay không gia nhập?

CISG được soạn thảo và đưa ra bàn luận giữa đại diện các nước trên thế giới trong sự vắng mặt của Nam Phi bởi vào giai đoạn đó quốc gia này thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng. Vì vậy họ không có đóng góp nào đáng kể đối với sự hình thành của CISG.

Theo giáo sư Sieg Eiselen[3] cho đến thời điểm này vẫn còn tồn tại những mâu thuẫn về việc nên hay không nên áp dụng các quy phạm thống nhất cho các hợp đồng mua bán quốc tế tại Nam Phi. Mâu thuẫn càng gay gắt hơn khi bàn đến sự tham gia trở thành nước thành viên của Công ước Viên 1980 – Công ước được áp dụng cho hơn 3/4 tổng giao dịch hàng hóa trên toàn thế giới hiện nay.

Các ý kiến phản đối việc gia nhập cho rằng gia nhập CISG sẽ tạo ra hơn một hệ thống pháp luật về hợp đồng mua bán tồn tại ở quốc gia này, từ đó dễ gây cồng kềnh bộ máy quy phạm pháp luật. Những người phản đối cho rằng phía ủng hộ Công ước đã quá phóng đại các mâu thuẫn về tranh chấp hợp đồng mà thật ra luật quốc gia hiện hành hoàn toàn có thể xử lý được. Không những vậy, khi tham gia Công ước, luật pháp trở nên cứng nhắc và khó điều chỉnh vì để sửa đổi một điều khoản trong Công ước cần có sự đồng tình của toàn bộ các nước thành viên.

Mặt khác, sự khác biệt vềvăn hóa, tập quán thương mại và ngôn ngữ giữa các quốc gia khiến việc biên dịch Công ước này tại Nam Phi có thể gây ra những sự không rõ ràng và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật.

Trong khi đó, phía ủng hộ cũng đưa ra những lập luận mạnh mẽ về những lợi ích mà Công ước Viên 1980 có thể mang lại cho nước này:

– Về lĩnh vực pháp lý, áp dụng Công ước Viên sẽ loại bỏ các xung đột giữa pháp luật Nam Phi và pháp luật nước ngoài về mua bán hàng hóa, sẽ không còn phải “chọn luật” cho các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như từ trước đến nay (trừ khi các bên hợp đồng muốn như vậy). Ngoài ra, không những Công ước không xung đột với bất cứ điều luật hiện hành của Nam Phi mà còn giúp hoàn chỉnh các điều luật đó theo chuẩn mực toàn cầu.

– Về lĩnh vực kinh tế, Công ước giúp đơn giản hóa các thương vụ mua bán bằng việc áp dụng quy trình chung cho việc giao kết hợp đồng và những nguyên tắc chung để giải quyết các tranh chấp hợp đồng nếu có. Từ đó tiết kiệm thời gian và chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Nam Phi, nhất là những doanh nghiệp nhỏ.

– Hầu hết các nước đối tác thương mại lớn của Nam Phi đều đã tham gia Công ước này (như Hoa Kỳ, Trung Quốc, các nước Châu Âu,…) nên việc trở thành nước thành viên chứng tỏ khả năng hòa nhập của Nam Phi trên trường quốc tế.

Cho đến nay, tranh cãi này ở Nam Phi vẫn chưa đi tới hồi kết và vì vậy nước này vẫn đứng ngoài CISG.

2.3. Nhật Bản – Muộn nhưng chắc chắn [4]

Nhật Bản đã gia nhập Công ước Viên 1980 ngày 1/8/2009, sau gần ba mươi năm CISG được phê duyệt và sau gần hai mươi năm kể từ khi CISG chính thức có hiệu lực. Tại sao cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới này lại chậm trễ trong việc gia nhập CISG như vậy?

Chưa bao giờ Nhật Bản phản đối việc tham gia Công ước Viên 1980, tuy nhiên trong khoảng thời gian khủng hoảng kinh tế ưu tiên hàng đầu đối với Chính Phủ Nhật là thoát khỏi khủng hoảng. Mặt khác, vào thập niên 90 chỉ có khoảng 30 nước tham gia CISG, chưa có một xu hướng rõ rệt hay câu trả lời chính xác rằng CISG sẽ được sử dụng rộng rãi hay không cùng với việc thiếu sự hậu thuẫn về kinh tế từ các tập đoàn kinh doanh lớn nên Nhật đã không tham gia CISG cho đến 1/8/2009. Có ba lý do chính cho sự thay đổi này:

Thứ nhất, việc tham gia và sử dụng CISG trong giao dịch thương mại quốc tế đã trở thành xu thế toàn cầu.  Đã có 74 quốc gia tham gia Công ước, ngay cả những nước chưa tham gia cũng có thể sử dụng công ước như một luật điều chỉnh hợp đồng.

Thứ hai, hiện nay nền kinh tế đã đi vào ổn định, Chính Phủ Nhật đã có điều kiện tập trung thời gian cũng như nhân lực vào công tác nghiên cứu tác động của CISG, và đã sớm khẳng định những lợi ích mà CISG mang lại. Các thương gia chính là những người nhận thức rõ nhất lợi ích của việc tham gia CISG như giảm chi phí khi sử dụng một bộ luật thống nhất cho các giao dịch quốc tế, hay có thể cắt giảm chi phí cho việc đàm phán bộ luật điều chỉnh hợp đồng. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản với các nước châu Á ngày càng tăng, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch. Nhiều nước châu Á là các nước đang phát triển, cần hoàn thiện hệ thống luật pháp nên việc xác định được một bộ luật thống nhất có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giao thương này.

Thứ ba, nhiều thương gia, cũng như các nhà làm luật đã trở nên quen thuộc với CISG do nhiều điều khoản cũng như khái niệm của CISG đã được đưa vào luật dân sự của Nhật. Vì vậy tâm trạng e dè đối với việc tham gia CISG hầu như không còn nữa.

2.4. Các nước ASEAN – Rụt rè tăng tốc

Một điều dễ nhận thấy khi nhìn vào danh sách 74 nước thành viên CISG là sự vắng mặt của hầu như tất cả các nước ASEAN (trừ Singapore) trong khi đây lại là một trong những khu vực năng động nhất thế giới (đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu).

Theo ý kiến của Ông Luca Castellani, chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế tại Ban Thư ký UNCITRAL thì việc các nước ASEAN chưa phải là thành viên CISG có thể xuất phát từ nhiều lý do. Thứ nhất, rất ít nước có đại diện tham gia vào quá trình đàm phán xây dựng CISG từ thuở ban đầu và vì vậy họ không gia nhập CISG ngay từ thời điểm ký kết. Thời gian sau đó, các nước này lại bị cuốn vào rất nhiều mối quan tâm ưu tiên khác về pháp lý (trừ Singapore) và vì vậy họ chưa tham gia CISG chứ hoàn toàn không phải vì những lý do về nội dung của CISG. Một lý khác giải thích cho việc này là các nước ASEAN có tham vọng hình thành một khung pháp lý chung về hợp đồng cho các nước trong khu vực này, vì vậy họ không thật sự mặn mà với CISG. Tuy nhiên, khi mà khung pháp lý chung mà các nước ASEAN này chưa thành hình trong khi hoạt động thương mại ở khu vực này lại đang gia tăng nhanh chóng (đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định thương mại tự do về hàng hóa ATIGA), xu hướng quay lại với CISG lại đang gia tăng ở khu vực này. Với việc gia nhập CISG của Hàn Quốc năm 2005 và Nhật Bản năm 2009, xu hướng ủng hộ CISG càng được cổ vũ hơn nữa. Thái Lan, Philippine, Indonesia đang tỏ rõ ý định gia nhập CISG và có lẽ việc gia nhập của họ chỉ còn là câu chuyện thời gian.

Xu thế tương tự cũng diễn ra tại Singapore, nước gia nhập CISG vào ngày 16/02/1995 với bảo lưu Điều 1.1(b) của Công ước. Mục đích của sự bảo lưu này là làm giảm sự lo ngại của các đối tác chưa biết đến CISG và vẫn có thói quen chấp nhận luật Singapore để điều chỉnh hợp đồng. Tuy nhiên tình thế hiện nay đã có nhiều thay đổi, không ít doanh nghiệp trên thế giới đã có cái nhìn tổng quan về tầm ảnh hưởng và lợi ích của CISG. Chính vì vậy mà nhiều người cho rằng Singapore nên hủy bỏ chế độ bảo lưu trước đây. Họ khẳng định những lý do khiến Singapore bảo lưu Điều 1.1b đã không còn phù hợp và hiện tại không có lý do chính đáng để quốc gia này tiếp tục bảo lưu. Trước đây những nước chấp thuận luật Singapore để điều chỉnh hợp đồng (đa phần là những nước có hệ thống luật không mạnh bằng luật Singapore) bây giờ muốn hợp đồng mua bán của họ được điều chỉnh bởi CISG – Công ước đảm bảo được sự bình đẳng cho cả bên bán và bên mua. Ngoài ra, trong trường hợp tuyên bố không bị ràng buộc này được gỡ bỏ, hai bên mua và bán vẫn có thể tiếp tục lựa chọn luật Singapore để điều chỉnh hợp đồng thay vì CISG – theo như Điều 6 của Công ước. Hơn nữa, việc chấp nhận Điều 1 khoản 1b còn chứng tỏ Singapore luôn có một môi trường kinh doanh thân thiện, tiến bộ trong lĩnh vực pháp lý, đồng thời CISG sẽ được tạo điều kiện để trở nên phổ biến trong khu vực Đông Nam Á, từ đó tăng thêm thu nhập từ các vụ giải quyết tranh chấp và thương thuyết liên quan đến CISG với những kinh nghiệm đã có sẵn.

2.5 Hàn Quốc – Vì nhu cầu phát triển

Trong vòng 20 năm trở lại đây, Hàn Quốc đã có bước tiến dài trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế với sự tăng trưởng ấn tượng về kim ngạch và khối lượng xuất nhập khẩu. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trở thành nhu cầu thiết thân đối với nước này. Vì vậy, sau nhiều năm thảo luận nội bộ, cùng với “sức ép” tạo ra từ sự gia nhập CISG lần lượt của các bạn hàng lớn, trong đó có các đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc… Hàn Quốc đã có quyết định cuối cùng: gia nhập CISG vào ngày 17/2/2004, và chính thức áp dụng các điều khoản của Công ước vào các giao dịch hàng hóa Quốc tế vào ngày 1/3/2005.

Trước thời điểm này, các tổ chức kinh doanh của Hàn Quốc luôn bị động khi chọn luật cho hợp đồng mua bán và thường có xu hướng chấp nhận luật nước ngoài, đặc biệt là luật của Hoa Kỳ và Anh. Điều này làm các doanh nghiệp Hàn Quốc khó có thế chủ động khi xảy ra tranh chấp, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa. Vì lý do này, việc gia nhập CISG đã được tính đến. Tuy nhiên một số người vẫn bất đồng ý kiến với việc gia nhập CISG vì lo ngại rằng gia nhập thành viên Công ước sẽ đem lại nhiều rủi ro pháp lý và ngỡ ngàng cho nhiều luật sư và doanh nhân Hàn Quốc đã quen áp dụng các bộ luật sẵn có, nhất là việc dịch Công ước sang tiếng quốc ngữ. Đây cũng là quan ngại chung của nhiều nước khi cân nhắc việc nên hay không nên trở thành thành viên của Công ước (như đã phân tích đối với Vương Quốc Anh và Nam Phi). Ngoài ra, họ cho rằng thời điểm gia nhập CISG là chưa chín muồi vì một số bạn hàng lớn lúc bấy giờ vẫn chưa có động thái tích cực đối với CISG, điển hình là Nhật Bản – một trong số những nước có khối lượng giao dịch hàng hóa lớn nhất với Hàn Quốc và có hệ thống quy phạm pháp luật gần giống Hàn Quốc nhất.

Những quan điểm trên đã dần thay đổi khi hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Hàn Quốc ngày càng mở rộng. Sự thay đổi lớn nhất là sự bình thường hóa quan hệ mua bán với Trung Quốc – một nền kinh tế đang lớn mạnh một cách cực kỳ ấn tượng tại Châu Á từ năm 1992. Vào thời điểm đó Trung Quốc đã là thành viên của CISG. Chính sự gia tăng lượng giao dịch hàng hóa với Trung Quốc và sự chuẩn bị ráo riết của Nhật Bản trong tiến trình gia nhập CISG vào thời điểm đó là nguồn động lực lớn nhất để các học giả, luật sư và các nhà kinh tế Hàn Quốc đã ủng hộ mạnh mẽ xu hướng gia nhập Công ước.

3. Công ước Viên với các nước đã gia nhập: Tác động như thế nào?

3.1 Trung Quốc – Tự tin tăng trưởng

Từ hai thập kỷ nay (từ năm 1988 khi Công ước bắt đầu có hiệu lực), Công ước Viên đã và đang được áp dụng rất rộng rãi tại Trung Quốc[5]. Nhiều phán quyết của trọng tài Trung Quốc, chủ yếu là của CIETAC (China International Economic and Trade Arbitration Commission) có liên quan đến Công ước Viên 1980 đã được tập hợp. Con số này là khoảng 300 phán quyết[6]. Trong các phán quyết này, có thể thấy rõ vai trò của Công ước trong việc điều chỉnh các vấn đề mà pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung Quốc còn bất cập hoặc chưa điều chỉnh, nhờ đó những tranh chấp trong lĩnh vực ngoại thương được giải quyết nhanh chóng và hợp lý.

Theo nhận định của nhiều nhà phân tích thì Công ước Viên 1980 đã phát huy vai trò rất tích cực để thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Trung Quốc. Vai trò này được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn những năm 90 của thế kỷ trước, thời kỳ phát triển mạnh mẽ hoạt động ngoại thương của Trung Quốc[7]. Một mặt, các nhà kinh doanh Trung Quốc có một nguồn luật đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới để áp dụng vào hợp đồng ký với đối tác nước ngoài. Mặt khác, các đối tác nước ngoài cũng tin tưởng và yên tâm hơn khi làm ăn với các doanh nghiệp Trung Quốc vì Công ước này đã được chấp nhận ở Trung Quốc. Số lượng các hợp đồng trong đó các bên lựa chọn Công ước Viên 1980 là luật áp dụng ngày càng gia tăng[8].

Vai trò của Công ước ở Trung Quốc còn thể hiện ở việc nhiều điều khoản trong Luật Hợp đồng Trung Quốc ngày 15/03/1999 được tham khảo từ Công ước này. Các nhà lập pháp Trung Quốc đã chuyển hóa các nguyên tắc chung và một số quy định cụ thể của Công ước Viên 1980 vào pháp luật hợp đồng của mình, trước hết vì đó là những nguyên tắc và quy định được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tiễn áp dụng CISG, có nhiều trường hợp thậm chí tòa trọng tài Trung Quốc còn áp dụng CISG cho cả quan hệ thương mại giữa hai bên cùng có trụ sở ở Trung Quốc,[9] hoặc một bên Trung Quốc, một bên Hồng Kông, Macao hoặc Đài Loan.[10] Trong đó CISG thể hiện rất rõ vai trò “lấp lỗ trống” pháp lý trong pháp luật thương mại hợp đồng của Trung Quốc.[11]

3.2 Châu Âu – Sự hào hứng lan tỏa

Các nước Tây Âu là nơi khởi nguồn ý tưởng thành lập một công ước quốc tế nhằm thống nhất quy định về hợp đồng mua bán quốc tế. Pháp, Đức, Ý đều là thành viên của các Công ước La Hay 1964, tiền thân của CISG. Cũng chính các nước này đã tham gia đóng góp rất nhiều vào việc soạn thảo và xây dựng Công ước Viên. Chính vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi đây cũng là các nước tham gia Công ước sớm nhất (Pháp tham gia CISG năm 1982, Ý năm 1985, Đức tham gia năm 1989) và Công ước Viên cũng có ảnh hưởng rất lớn ở các nước này.

Đức là nơi mà CISG có dấu ấn rõ nét nhất, với khối lượng khổng lồ các án lệ áp dụng CISG (các án lệ này chiếm tới gần 1/3 toàn bộ các án lệ được báo cáo tại CLOUT[12], UNILEX và PACE). Năm 2002, CISG đã chính thức trở thành một phần của Bộ luật Dân sự của Đức.[13] Một học giả của Đức, giáo sư Ulrich Magnus,[14] đã tổng kết rằng “Công ước Viên là Công ước duy nhất về luật tư pháp mà Đức đã tham giaCông ước này vẫn đang có ảnh hưởng rộng lớn trên hầu khắp các lĩnh vực mà nó có thể vươn tới” Các nghiên cứu ở nước này cho thấy CISG được phổ biến rất rộng rãi và 100% các luật sư, thẩm phán được phỏng vấn đều có những hiểu biết nhất định về CISG. Công ước Viên cũng được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua Luật về các nghĩa vụ (“Schuldrechtsreform”) năm 2002 theo khuôn mẫu CISG) trong rất nhiều hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa.

Pháp là quốc gia thứ hai (sau Đức) có số lượng án lệ lớn về CISG[15]. Thực tiễn áp dụng CISG tại Pháp cũng có nhiều thăng trầm. Trong thời gian đầu, sự khác biệt trong một số quy định của CISG và pháp luật về mua bán hàng hóa ở Pháp đã dẫn tới một số khó khăn nhất định trong việc áp dụng CISG[16]. Do đó, trong thời gian này, nhiều phán quyết của tòa án Pháp liên quan đến CISG đã bị chỉ trích là không hợp lý do các thẩm phán bị ảnh hưởng nặng nề bởi pháp luật quốc gia và vì thế đã diễn giải chưa đúng các điều khoản của Công ước[17]. Tuy vậy, cùng với thời gian, đặc biệt là với sự lên tiếng của các học giả Pháp bình luận các bản án chưa hợp lý thì chất lượng các bản án áp dụng CISG của tòa án Pháp ngày càng được nâng cao[18]. Cũng giống như ở Đức, Công ước Viên có vai trò đáng kể giúp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng và pháp luật về hợp đồng nói chung tại Pháp. Một số quy định của CISG đã làm thay đổi quan niệm cứng nhắc của các luật gia, các thẩm phán của Pháp, ví dụ về việc chấp nhận các hợp đồng có giá mở[19], hay là giảm bớt các nghĩa vụ quá nặng nề của người bán[20]. Thậm chí, trong một bản án của mình, Tòa Phúc thẩm Pháp (Cour de cassation) còn dẫn chiếu đến CISG để “soi sáng” cho một số điều luật trong Bộ luật dân sự của Pháp[21]. Có thể nói,thành công của việc áp dụng CISG tại Pháp có được một phần lớn là nhờ nỗ lực của các nhà nghiên cứu. Ở Pháp có một lượng khổng lồ các học thuyết (doctrines) liên quan đến CISG, các công trình nghiên cứu về CISG cũng rất nhiều. Các nhà nghiên cứu, bằng những học thuyết và công trình của mình, đã góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến về CISG, đồng thời cũng tác động tới quá trình áp dụng CISG của các thẩm phá và quá trình hoàn thiện pháp luật quốc gia của các nhà lập pháp.

Tại Ý, một vấn đề gây khó khăn trong việc thực thi Công ước là tiếng Ý không nằm trong 06 ngôn ngữ chính thức của Công ước (là tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả rập). Hiện ở Ý tồn tại nhiều bản dịch CISG, nhưng chưa có bản dịch nào được chính thức công nhận. Tuy nhiên, các tòa án không mấy khi để ý so sánh các bản dịch này. Trong một số trường hợp các thẩm phán buộc phải dẫn chiếu đến một trong 06 bản ngôn ngữ chính thức của CISG (như bản tiếng Anh hoặc tiếng Pháp) để đảm bảo tính chính xác khi diễn giải các điều khoản của Công ước. Mặc dù không có những số liệu cụ thể chính xác, nhiều nghiên cứu và đánh giá cho thấy nhận thức về Công ước Viên trong giới luật sư, thẩm phán tại Ý là tương đối thấp. Một số tòa án từ chối áp dụng CISG và thay bằng Bộ luật Dân sự của Ý (“Codice Civile”) trong những trường hợp mà lẽ ra CISG phải được áp dụng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây giới hành nghề luật tại Ý ngày càng nhận thức tốt hơn về Công ước, thể hiện ở việc ngày càng nhiều hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa sử dụng CISG như một công cụ soạn thảo. Đây là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng CISG ở các nước không nói ngôn ngữ chính thức của CISG.

3.3 Hoa Kỳ – Gỡ bỏ nghi ngại

Là một trong những nước đầu tiên tham gia Công ước Viên từ năm 11/12/1986 nhưng quá trình thực thi Công ước tại Hoa Kỳ lại cho một bức tranh hoàn toàn trái ngược với Trung Quốc và Đức, Pháp.

Là cường quốc lớn nhất thế giới về kinh tế và thương mại quốc tế, trong suốt 12 năm đầu thực hiện Công ước, Hoa Kỳ chỉ đóng góp vào thư viện án lệ CISG khoảng 18 án lệ,[22] thấp hơn rất nhiều so với quy mô giao dịch thương mại của quốc gia này. Đáng lưu ý trong số đó rất nhiều trường hợp các tòa án Hoa Kỳ viện dẫn Điều 6 của CISG để từ chối áp dụng Công ước.[23] Tương tự, hầu hết các luật sư và nhà tư vấn pháp lý tại Hoa Kỳ đều khuyến khích khách hàng quy định điều khoản không áp dụng CISG trong thỏa thuận thương mại của mình.[24] Ngoài ra, trong những trường hợp khác khi CISG được áp dụng, các thẩm phán Hoa Kỳ thường có xu hướng sử dụng các khái niệm của UCC để diễn giải Công ước trái với yêu cầu về tính quốc tế của nó.[25] Điều này theo nhiều chuyên gia được giải thích bởi 03 lý do sau:

  • Thứ nhất, Bộ luật thương mại thống nhất (UCC) năm 1952 của Hoa Kỳ là một bộ luật hết sức chi tiết về hợp đồng mua bán hàng hóa, hiện được áp dụng rộng rãi tại 50 trong tổng số 51 bang của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã mất một thời rất dài để thống nhất hóa được luật pháp về thương mại theo UCC, vì vậy việc áp dụng CISG cho mua bán hàng hóa quốc tế tồn tại song song với UCC đã tạo ra sự xáo trộn không nhỏ. Các thương nhân Hoa Kỳ đã quen áp dụng UCC 1952 và nếu áp dụng CISG thì họ phải thay đổi một số cách thức và thói quen làm ăn đã được thực hành từ rất lâu giữa các thương nhân Hoa Kỳ và thương nhân nước ngoài. Đây là điều họ không muốn. Vì vậy, trong các điều kiện giao dịch chung (điều kiện chung về bán hàng hay điều kiện chung về mua hàng), họ đều loại trừ việc áp dụng Công ước Viên 1980. Trong trường hợp họ có thế và lực trong đàm phán, họ thường quy định áp dụng UCC hoặc pháp luật của một bang nào đó của Hoa Kỳ thay vì áp dụng CISG.
  • Thứ hai, CISG dường như không giành được sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật cũng như giới hoạt động thực tiễn ở Hoa Kỳ. Trên thực tế, các luật sư Hoa Kỳ cũng thấy khó khăn trong việc tư vấn cho khách hàng áp dụng CISG và ở Hoa Kỳ hiện chưa có nhiều án lệ áp dụng CISG. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên, luật sư và thậm chí các thẩm phán hiểu biết về CISG rất ít nếu so với các nước thuộc EU như Pháp, Đức, Ý. Nghiên cứu của học giả Hoa Kỳ, Sukurs[26] cho thấy CISG không được giảng dạy trong các khóa học về hợp đồng thương mại, chỉ có khoảng 30% thẩm phán tại Bang Florida có kiến thức vừa phải về CISG. Trong số 10 luật sư Hoa Kỳ được hỏi về CISG có tới 8 đến 9 người trả lời rằng họ thực sự không biết CISG là gì, một số người còn cho rằng CISG là một loại hiệp ước quốc tế không liên quan đến các quan hệ giao dịch có Hoa Kỳ tham gia vì UCC luôn là nguồn luật được áp dụng! Trong một nghiên cứu khác của Ubartaite[27] tại Tòa Quốc tế Giả định Hoa Kỳ – Jessup, ông nhận thấy có sự phân biệt rất rõ ràng giữa nhận thức của nhóm các sinh viên đến từ châu Âu như Đức, Ý, Tây Ban Nha, Anh và Nam Phi, và nhóm sinh viên Hoa Kỳ. Các sinh viên đến từ Châu Âu đều rất quen thuộc với Công ước Viên và coi nó là một phần quan trọng trong kiến thức pháp lý của mình. Ngược lại các sinh viên Hoa Kỳ hầu như không biết về sự tồn tại của CISG, và ít hơn 20% trong số các sinh viên này từng được học về CISG.
  • Thứ ba, một số quy định và khái niệm cơ bản của CISG khác với các quy định tương ứng của Hoa Kỳ, điều này khiến cho việc xét xử có thể trở nên khó khăn. Ví dụ như khái niệm “thiện chí” trong CISG không hề xuất hiện trong hệ thống luật Hoa Kỳ.[28] Vì vậy ngay cả các thẩm phán cũng “lưỡng lự” trong việc áp dụng CISG và thường có xu hướng né tránh áp dụng.

Các lý do trên cũng đúng đối với hầu hết các nước theo hệ thống thông luật (common law) như Anh, New Zealand, Canada, Úc, Singapore.[29] Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây, trước áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, tình hình áp dụng Công ước Viên tại Hoa Kỳ đã được cải thiện ít nhiều. Chỉ trong 10 năm từ 2001-2010, số lượng án lệ CISG của Hoa Kỳ được báo cáo tại UNILEX đã tăng gấp hơn 3 lần so với 12 năm trước đó (từ 1998-2000), nhiều học giả và nhà hành nghề luật tại Hoa Kỳ đã nêu lên nhu cầu phải thống nhất hóa luật quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo khuôn khổ CISG do khối lượng giao dịch thương mại ngày càng tăng giữa các quốc gia thành viên của Công ước.[30]

4. Một số bài học rút ra từ việc tham khảo kinh nghiệm các nước

Từ kinh nghiệm các nước tham gia Công ước Viên, chúng ta có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý sau:

(i)                Ngoại trừ trường hợp của Anh (với sự khác biệt rất lớn giữa quy định luật quốc gia và CISG), hầu hết các nước hiện nay chưa hoặc không có ý định tham gia Công ước Viên đều không dựa trên những căn cứ quan trọng hoặc lập luận xác đáng cụ thể. Ngược lại, sự chậm trễ này thường là kết quả của sức ỳ trong tâm lý, truyền thống pháp lý của quốc gia và sự thiếu quan tâm thúc đẩy của doanh nghiệp trong nước đối với diễn biến phát triển của CISG trong thông lệ giao dịch thương mại quốc tế.

(ii)             Các nước khi cân nhắc việc tham gia Công ước Viên thường dựa trên một số căn cứ chính:

  • Về kinh tế, mức độ ảnh hưởng và áp dụng của CISG lên các giao dịch thương mại quốc tế của nước mình, thường là thông qua việc đánh giá khối lượng giao dịch thương mại quốc tế của quốc gia mình với các nước bạn hàng đã là thành viên của Công ước;
  • Về pháp lý: sự sai khác về luật pháp quốc gia và các quy định của CISG là lớn hay nhỏ, khoảng chồng lấn trong phạm vi áp dụng giữa CISG và pháp luật quốc gia, qua đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của việc CISG trở thành một phần luật quốc gia như thế nào và mức độ rủi ro của việc hệ thống pháp luật trở nên cồng kềnh hoặc không ổn định;
  • Về chính trị ngoại giao: tác động về vị thế chính trị, ngoại giao của quốc gia khi tham gia Công ước Viên;
  • Các yếu tố khác: Bảo lưu nội dung nào cho phù hợp với tính hình quốc gia? Các vấn đề liên quan đến việc phổ biến tuyên truyền để nâng cao nhận thức của giới doanh nghiệp, người thi hành luật, áp dụng luật… về CISG nhằm tận dụng tối đa những lợi ích của Công ước này.

(iii)           Khu vực châu Á hiện đang là khu vực mà CISG có sự phát triển mạnh về tầm ảnh hưởng với việc gia nhập gần đây của Hàn Quốc và Nhật Bản. Những diễn biến này chắc chắn có ảnh hưởng không nhỏ đến thông lệ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại khu vực ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng. Vì vậy, việc chủ động nghiên cứu để cân nhắc khả năng, thời điểm, phương thức tham gia CISG nhằm đón đầu cơ hội tham gia sâu rộng hơn vào hội nhập quốc tế là hết sức cần thiết đối với Việt Nam.

Việc Việt Nam cân nhắc có gia nhập CISG hay không vì vậy cũng nên được xem xét từ các yếu tố nói trên trong tương quan với nhu cầu thực sự của Việt Nam và những điều kiện cũng như hoàn cảnh kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Việt Nam.

Nguồn: “Nghiên cứu của VCCI về việc VN tham gia Công Ước Viên 1980”


[1] Xem Angelo Forte, “The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods: Reason or Unreason in the United Kingdom” (1997) 26 University of Baltimore Law Review 51-66; Alison E. Williams, ‘Forecasting the Potential Impact of the Vienna Sales Convention on International Sales Law in the United Kingdom’ trong PACE, Review of the Convention on Contracts for the International Sale of Goods (CISG), (Kluwer Law International 2000-2001) 9-57

[2] Angelo Forte (note 32, trang 54).

[3] Sieg Eiselen, “Adoption of the Vienna Convention for the International Sale of Goods (the CISG) in South Africa” 116 South African Law Journal, Part II (1996) 323-370.

[4] Tham khảo Hiroo Sono, “Japan’s Accession to the CISG: The Asia Factor” (2008) 20 Pace International Law Review 105-114

[5] Cần chú ý là hiện nay, Công ước Viên 1980 chưa được coi là có hiệu lực tại Hồng Kông và Ma Cao.

[6] Claude Witz, L’essor de la Convention de Vienne en Asie (Sự bành trướng của Công ước Viên 1980 tại Châu Á), Recueil Dalloz, 2009, tr.280. Có thể tra cứu chi tiết các phán quyết này tại website của Viện nghiên cứu về Luật thương mại quốc tế thuộc trường ĐH Pace (Hoa Kỳ) : www.cisg.law.pace.edu.

[7] http://www.hhp.com.cn/cisg/index.html

[8] http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/dingding.html

[9] Xem China 1 April 1997 CIETAC Arbitration proceeding (Fishmeal case) truy cập tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/970401c1.html> ngày 29/5/2010.

[10] Xem China 27 February 1996 CIETAC Arbitration proceeding (Wool case) truy cập tại <http://cisgw3.law.pace.edu/cases/960227c1.html> ngày 29/5/2010.

[11] Xem thêm Fan YANG, ‘The Application of the CISG in the Current PRC Law and CIETAC Arbitration Practice’ (PACE, December 2006), truy cập tại <http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/yang2.html#99> ngày 29/5/2010.

[12] Case Law on UNCITRAL Text.

[13] Xem Franco Ferarri (ed), The CISG and its Impact on National Legal Systems (Sellier. European Law Publishers GmbH, Munich 2008) 144.

[14] Xem Franco (n 38) 144.

[15] Xem các án lệ này tại website CISG- France: http://www.cisg-france.org/

[16] Các nghiên cứu đã chỉ ra bảy điểm khác biệt lớn giữa CISG và pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Pháp. Xem : MOULY Christian, Que change la Convention de Vienne sur la vente internationale par rapport au droit français interne ?, dans Recueil Dalloz Sirey, 1991, 11è cahier, Chroniques, p.77-79

[17] DIESSE François, L’application par les juridictions françaises de la Convention de Vienne sur la vente internationale de marchandises, Contrats Concurrence Consommation, no8 du 01/08/2001, p.7

[18] Tài liệu như trên, trang 8.

[19] Theo pháp luật của Pháp, các hợp đồng mua bán đều phải ấn định giá, đây là một yếu tố không thể thiếu trong hợp đồng. Hiện nay, do sự ảnh hưởng của các quy định « mềm dẻo » hơn của CISG liên quan đến điều khoản giá, các hợp đồng có giá mở (open price contracts) đã được công nhận theo thực tiễn pháp lý tại Pháp. Xem thêm : MOULY Christian, Que change la Convention de Vienne sur la vente internationale par rapport au droit français interne ?, dans Recueil Dalloz Sirey, 1991, 11è cahier, Chroniques, p.78.

[20] Pháp luật về mua bán hàng hóa của Pháp được bình luận là quy định quá nhiều nghĩa vụ cho người bán. Dưới tác động của Công ước Viên thì các tòa án Pháp ngày càng có xu hướng diễn giải nghĩa vụ của người bán một cách mềm dẻo hơn nhằm tạo sự bình đẳng về mặt pháp lý giữa người bán và người mua.

[21] Xem bản án của Tòa phá án của Pháp ngày 06/03/1990.

[22] Xem chi tiết các án lệ này tại UNILEX <http://www.unilex.info/dynasite.cfm?dssid=2376&dsmid=13354> truy cập ngày 28/5/2010.

[23] Xem Orbisphere Corp. v. United States (1990) U.S. Court of International Trade 726 Federal Supplement, 1344.

[24] Xem Monica Kilian, ‘CISG and the Problem with Common Law Jurisdictions’ (2001) 10 J. Transnational Law & Policy 217, 227. Xem thêm James P. Quinn, ‘The Interpretation and Application of the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (2005) 9 Int’l Trade & Bus. L. Rev. 221, 224.

[25] John E. Murray, ‘The Neglect of CISG: A Workable Solution’ (1998) 17 J. L. & Comm. 365-379.

[26] Charles Sukurs, ‘Harmonizing the Battle of the Forms:  A Comparison of the United States, Canada, and the United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods’ (2001) 34 Vand. J. Transnatl. L. 1481.

[27] Edita Ubartaite, ‘Application of the CISG in the United States’ (2005) 7 Eur. J.L. Reform 277-302.

[28] John P. McMahon, Applying the CISG- Guides for Business Managers and Counsel , Revised October 2009, xem tại: http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/guides.html

[29] Có rất nhiều bài viết học thuật về vấn đề này. Xem Marlyse McQuillen, ‘The Development of a Federal CISG Common Law in U.S. Courts: Patterns of Interpretation and Citation’ (2007) 61 U. Miami L. Rev. 509-537, 510; Kilian (n. 170) 226; Joseph Lookofsky and Harry Flechtner, ‘Nominating Manfred Forberich: The Worst CISG Decision in 25 Years?’ (2005) 9 Vindobona J. of Int’l Comm. Law and Arb. 199-208; Rajeev Sharma, ‘The United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods: The Canadian Experience’ (2005) 36 VUWLR 847-858; Mathias Reimann, “The CISG in the United States: Why It Has Been Neglected and Why Europeans Should Care” (2007) 71 Rabels Zeitschrift für ausländisches und internationales Privatrecht 115-129; Geneviève Saumier, ‘International Sale Of Goods Law In Canada: Are We Missing The Boat?’ (2007) 7 Can. Int’l Lawyer 1-8; Antonin I. Pribetic, ‘An ‘Unconventional Truth’: Conflict of Laws Issues Arising Under the CISG’ (2009) 1 Nordic Journal of Commercial Law 1-48, 8, available at http://ssrn.com/abstract=1302962 accessed 10 Aug 2009; Edita Ubartaite, ‘Application of the CISG in the United States’ (2005) 7 Eur. J.L. Reform 277-302.

[30] Xem Surkus (n 51).

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s